Dung Quất chắc là địa điểm ít gợi lên cảm hứng du lịch nhất trong số các địa danh của Việt Nam. Nghe đã thấy chẳng mấy yên bình mà đa phần cục súc, Dung là ai mà đòi quất người ta? Chưa kể, khu công nghiệp, lọc dầu, luyện thép, cảng nước sâu… có gì hấp dẫn chơi bời đâu.
Mình cũng thế. Mình đi Dung Quất không phải vì là cổ đông của Hòa Phát, không mấy tò mò với các cơ sở công nghiệp nặng. Mình muốn đến chỗ con sông Trà Bồng đổ ra biển – con sông quê hương của cụ Tế Hanh:
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Toả nắng xuống lòng sông lấp loáng(Nhớ con sông quê hương – Tế Hanh)
Thơ Tế Hanh, dù trước hay sau 1945 cũng đều hồn hậu, tình cảm, chân thành và gần gũi, không hề lên gân hay tìm kiếm những cách biểu hiện tân kỳ. Đọc thơ của ông làm mình liên tưởng đến nhạc của Schubert – một tâm hồn đẹp đẽ, yên ả ngay cả khi diễn tả những điều rất buồn.
Sông Trà Bồng êm ả đổ ra biển Đông ở cửa Sa Cần. Nếu như Dung Quất vốn biến âm từ tên tục là Vũng Quýt do dải đất bao quanh vịnh nhỏ này mọc nhiều cây quýt dại, thì nghe nói cửa biển Sa Cần cũng do mọc nhiều một thứ cây khác nhưng không phải là thứ mà bạn đang nghĩ đâu. Nghe nói hồi thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông dẫn quân bình Chiêm, qua tới cửa biển này thì hạ trại làm chỉ huy sở tiền phương. Biển nơi đây nhiều rong biển, lính thường hái lên phơi khô làm rau câu, vì thế gọi là Thể Cần (hái rau cần), sau đổi thành Sa Cần. Quanh vùng này vẫn còn nhiều địa phương ghi dấu đoàn quân của Lê Thánh Tông, như Chu Lai vốn là Châu Lai – nơi đoàn thuyền vua cập bờ, Châu Ổ là nơi thuyền neo đậu. Còn thành cổ Châu Sa, thành thì là thành đá của người Champa, nhưng tên sau này mới đặt chứ không phải gốc Chiêm. Có khi nào Châu Sa là nơi thuyền vua Lê mắc cạn mà thành tên chăng? Cái đận bình Chiêm ấy, bờ cõi Đại Việt mở ra tới rìa Phú Yên sang Khánh Hòa, nay còn Núi Đá Bia sừng sững bên con đường chạy men ven biển, được cho là nơi Lê Thánh Tông tới đề thơ check in trước lúc ca khúc khải hoàn.


Và không chỉ có thế, nói đến Dung Quất, thứ hiện lên đầu tiên là các công trình công nghiệp đồ sộ, đầy chất khô khan máy móc, nhưng khi đã vượt qua những con đường bụi mù, đi ngang những đường ống dẫn dầu to như trăn Anaconda chích steroid là có ngay một khoảnh làng quê nằm dưới bóng dừa xanh mướt mát. Chỗ đó là Bàu Cá Cái, một vùng sinh thái ngập mặn ven biển với chủ yếu là cây cóc trắng, cây đước trông như một cảnh miền Tây (Tây Nam Bộ chứ không phải miền Tây hoang dã).



Dong thuyền thủng thẳng đi dạo trên Bàu trong một ngày nắng vừa đủ để đẹp nhưng không đủ để nắng, chú Hai vừa chỉ trỏ giới thiệu, vừa thong thả đẩy sào. Bàu có từ thời xưa, nhưng mới khai thác du lịch sinh thái và trải nghiệm được đôi năm. Mà làm du lịch thì phải bài bản, người ta bổ luống, kè gỗ giữ đất, trồng thêm những hàng cóc mới bên cạnh vùng rừng ngập mặn nguyên sinh. Thấy bảo có cả bên Nhật về hỗ trợ làm dự án, không biết sau này có kết hợp bán tín chỉ carbon không.


Cái tên Bàu Cá Cái không biết từ đâu ra. Có thể xưa kia vùng này có nhiều bàu nước ngập mặn, nhưng bàu này là to nhất nên kêu bằng bàu cái chăng? Chú Hai thì giải thích là xưa kia bàu là vũng nước ngập mặn lớn, êm ả nên cá thường vào trú khi đến kỳ sinh nở. Các cụ trong làng dặn rằng thấy con cá đẻ thì không được bắt, để còn sinh sôi. Vì thế tôm cá từ biển vào càng nhiều. Không biết lý giải này có từ bao giờ, nhưng nếu từ thủa chim trời cá nước ai bắt được người ấy ăn, mà ngay bên kia là biển rộng cá tôm tràn trề, tiền nhân đã nghĩ đến chuyện đánh bắt có kiểm soát, nhậu đi đôi với bảo tồn như thế thì tư duy hiện đại thật chứ chơi đâu.



Để nói thêm về việc Dung Quất còn gì để đi, có lẽ phải thêm cả đèn biển Vạn Ca nữa cho đủ bộ. Lúc mình ở Bàu Cá Cái, chị chủ quán đã chỉ đi lên trên kia một tí có đèn biển đẹp lắm. Nó là ngọn hải đăng mới xây đâu đó đôi chục năm trên mũi đất nhô ra ngoài cảng Dung Quất, xét về tuổi đời chắc không đáng kể, tuổi đèn cũng chẳng có gì. Nhưng mình bị thu hút bởi những ngọn hải đăng bởi nó như biểu tượng của sự cô độc tỏa sáng.
Nhân nói đến tỏa sáng, không phải cứ sáng đèn thì hải đăng mới là hải đăng. Nó làm việc toàn thời gian, trọn đời, tận hiến. Mỗi ngọn đèn biển đều được thiết kế tín hiệu đèn khác với những hải đăng xung quanh nó để trong màn đêm đen tối, người đi biển theo độ nhấp nháy dài ngắn gần xa mà biết mình đang hướng về đâu, đồng thời ngoại hình của tháp đèn cũng phải đảm bảo nhìn thấy rõ trên nền cảnh quan, tàu bè dễ nhận ra trong ánh sáng ban ngày, là nơi ánh mắt tìm đến để neo vào sự yên tâm trong sóng gió.
Đi vào đèn biển Vạn Ca cũng hơi vòng vèo, bởi Google Maps chỉ đường thẳng đến… doanh trại quân đội. Mình biết đèn biển không thể nằm ở trong hay sau doanh trại được, nhưng không tìm thấy đường nào khác, cũng chả có ai để hỏi. Mãi tới khi chú bộ đội trực bảo vệ hớt hải chạy ra xem thằng khách nào cứ đi ra đi vào ngó nghiêng này là ai, thì chú mới chỉ cho cái đường be bé chạy sát tường doanh trại quân đội và men theo bờ biển để lên hải đăng. Mà quả là nó đẹp thật, đẹp từ trong ngõ đẹp ra, đẹp từ ngã bảy ngã ba đẹp về. Nên cuốc bộ mười lăm phút vào đến nơi, dù không được trèo lên tháp đèn đi nữa cũng vẫn đáng.


Em không ngờ ở sát quê em có một nơi vừa đẹp vừa deep vừa hoang sơ vừa có quá khứ vậy. Em vẫn thấy lạ lẫm quá. Sao anh biết tới chỗ này hay vậy? Hay là nó rất phổ biến trong du lịch khám phá?
hỏi người khác có biết không thì chịu đấy, hình như chưa có bộ thống kê xã hội học qua thần giao cách cảm. Bàu Cá Cái thấy cũng có khách đến, anh có gặp thuyền khách đi ngược chiều từ một bến khác vào. Chỗ này mới được khai thác du lịch tầm 2 năm trở lại đây thôi, chắc chưa nổi lắm.
Người ta cứ bị ấn tượng là Quảng Ngãi đất đai khô cằn, nắng lắm bão nhiều, chẳng có mấy điểm du lịch hấp dẫn nên nếu có đến, họ cũng chỉ biết đảo Lý Sơn thôi. Trong khi đó Quảng Ngãi sở hữu rất nhiều chỗ độc đáo thú vị mà vì ít được biết đến, ít khách nên có khi hơi sơ sài, dịch vụ hơi đơn giản, đường đi hơi khó tìm. Nhiều khi đó lại là món quà cho những người thích lọ mọ.
Kiến thức này đã được tiếp thu. Sẽ có bài thu hoạch sau khi đi thực địa!
Quảng Nam và Quảng Ngãi có nhiều thứ hay ho hấp dẫn lắm. Riêng Quảng Ngãi anh đi 2 lần rồi nhưng mới chỉ đến được một góc nhỏ, còn phải cắt khúc đi dần nhiều lần nữa. Ngoài mũi Ba Làng An có ngọn hải đăng với mấy cái miệng núi lửa nhô lên mặt biển, Quảng Ngãi còn di chỉ Sa Huỳnh, đầm An Khê, làng Gò Cỏ mà anh nghĩ sẽ quay lại vì nó hợp gu anh quá. Mạn phía Nam và phía Tây Quảng Ngãi anh cũng chưa đi được mấy nữa.
Em cũng thích Gò Cỏ dù chỉ mới đọc bài về nó. Mấy chỗ này có vẻ chỉ hợp để đi một mình hoặc với bạn bè, đi gia đình thì hơi thử thách phải không anh?
không, đi gia đình cũng hợp, hoặc anh đi solo cũng được, miễn là đừng kỳ vọng cao quá. Gò Cỏ anh đã đến từ 3 năm trước, nó là một sản phẩm ngách, có lẽ sẽ không hợp với nhu cầu của số đông nhưng bản thân quy mô của nó cũng không tiếp được lượng khách quá đông (và cũng không nên đông). Ở Gò Cỏ cùng lúc chồng lấn nhiều lớp văn hóa, từ Sa Huỳnh đến Champa và hiện đại. Đó là một chiều sâu mà những kỳ vọng hời hợt không thể chạm đến.
Nếu xác định đây là một chuyến “về quê với tía má”, sống cuộc sống nhàn nhã nhẹ nhàng với ruộng vườn thì mọi nhu cầu vật chất thật ra không quan trọng lắm. Cái cảm giác nằm võng, nhìn những tia nắng xuyên qua kẽ giàn hoa giấy chiếu xuống lấp loáng, đợi máy ép mía è è chảy ra dòng nước ngọt mát nó thanh thản dữ dội.