Hà Thành thất thủ, Hoàng Diệu tuẫn tiết

Đó sẽ là tiêu đề nóng bỏng nằm giãy đành đạch trên trang chủ của tất cả các báo điện tử vào ngày thứ ba, 25/4/1882, nếu lúc ấy đã có báo điện tử.

Không biết ai nghĩ ra cái câu “Thăng Long phi chiến địa”, nhưng có lẽ đó là một mong ước hơn là thực tế. Vì trên thực tế, Thăng Long không ít lần oằn mình dưới những cuộc đầu rơi máu chảy, cả ngoại xâm lẫn nội chiến tưng bừng. Riêng màn solo của vua Chiêm là Chế Bồng Nga 4 lần đi tour lưu diễn Bắc Hà đã đánh cho vua tôi nhà Trần chạy bán sống bán chết khỏi kinh đô, thành Thăng Long lần nào cũng bị cướp phá, tàn sát.

Chuyện thành Hà Nội thất thủ lần đầu dưới họng súng Pháp, mình đã từng kể trong post về cụ Nguyễn Tri Phương. Nhân đọc cuốn Các văn cổ về Hà Thành thất thủ và Hoàng Diệu của cụ Hoàng Xuân Hãn, mình tổng hợp lại những diễn biến của ngày Hà Nội thất thủ lần thứ hai dưới lời thuật lại của các bên liên quan.

Đây không phải là tư liệu lịch sử mà chỉ là đối chiếu, ghi nhận và chép lại để người đọc có một bức tranh toàn cảnh về những gì đã diễn ra trong ngày 25/4/1882 ấy. Hầu hết các thông tin đưa ra đều có sự xác nhận ngầm của các bên. Đối với những thông tin mâu thuẫn, mình ưu tiên lựa chọn chép theo lời của nhân chứng trực tiếp, ví dụ như binh lực và hành quân của Pháp, mình sẽ coi trọng lời Henri Rivière và tay thông ngôn (phiên dịch) tên Phong của quân Pháp, còn những diễn biến phía Hà Nội, mình ghi lại theo nhân chứng trong thành với những phần đã được xác minh của lời kể. Ví dụ, chi tiết Hoàng Diệu viết di biểu gửi triều đình chẳng hạn. Nhân chứng Phạm Đình Trọng là hộ vệ của Hoàng Diệu không nhắc đến việc quan Tổng đốc quay về viết di biểu gì cả. Qua nội dung của tờ biểu cũng như trình tự thời gian, mình cho rằng thật ra tờ biểu đã được người đời sau viết ra chứ không phải chính chủ, do đó những gì được nhắc đến trong tờ Di biểu có độ khả tín không cao.

Giờ ta sẽ lướt qua bức tranh toàn cảnh. Năm 1873, Hà Thành đã thất thủ lần thứ nhất, Nguyễn Tri Phương đã mất. Triều đình Huế điều đình và ký hòa ước 1874 với Pháp, theo đó Pháp giành quyền quản lý toàn diện ở Nam Kì, nhận một số khoảng đất gọi là nhượng địa ở dọc bờ sông Hà Nội, quyền thu thuế thương chánh, tự do đi lại ở Bắc Kì, Trung Kì. Ngược lại, Pháp trao trả Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì về dưới quyền triều đình Đại Nam.

Lúc này, triều đình Đại Nam đã bắt đầu nhận thấy chiến nhau về vũ lực có vẻ khó ăn, còn mềm mỏng thì cũng vẫn sẽ bị nắn tiếp nên xoay sở tìm cách thoát ra khỏi tình thế. Còn Pháp, dù đã giành được quyền quản lý hoàn toàn ở Nam Kì lục tỉnh, nhưng vẫn tham vọng đảm bảo nước Đại Nam phải hành xử theo ý mình. Trứng rán cần mỡ, bắp cần bơ, mà Pháp thì đầy cớ để vả tiếp cơ. Nại rằng quan lại triều Nguyễn và quân Thanh ở Bắc Kì cản trở việc đi lại thông thương của người Pháp, Thiếu tá Henri Rivière được điều từ soái phủ Sài Gòn dẫn quân ra tăng cường cho Hà Nội và Hải Phòng, sẵn sàng kiểm soát tình hình.

Năm 1880, Hoàng Diệu được bổ nhiệm là Tổng đốc Hà Ninh (gồm khu vực Hà Nội và Bắc Ninh), kiêm hàm Thượng thư Bộ Binh. Ông là một văn quan, xuất thân từ văn chương thi cử chứ không phải là tướng võ. Năm 20 tuổi ông đỗ Cử nhân, 26 tuổi đỗ Bảng Nhãn, tương đương với Á khoa trong kì thi toàn quốc, rồi trải qua nhiều chức quan trấn nhậm tại các địa phương. Trong bối cảnh quân Pháp nhăm nhe mở rộng vùng kiểm soát ra ngoài các vùng nhượng địa, ngay sau khi nhậm chức, Hoàng Diệu thực hiện chấn chỉnh công vụ của viên chức dưới quyền, đồng thời bắt tay vào tu sửa, gia cố thành Hà Nội, bổ sung thêm các vọng gác, tích trữ lương thảo, vũ khí cũng như kiểm soát chặt chẽ người ra, vào thành.

Theo lời thông ngôn của quân đội Pháp tên Phong – người ở giữa sở chỉ huy Pháp vào thời điểm đó, Henri Rivière (lúc ấy là Quan tư – tức là Thiếu tá) chính thức quyết định đánh thành Hà Nội để phá các công trình phòng thủ do Hoàng Diệu ráo riết xây dựng.

Cửa Bắc một thời hoang phế (ảnh từ thời Pháp)

Rạng sáng ngày 25 tháng 4 năm 1982, Rivière giao cho thông ngôn Phong nhiệm vụ dịch tối hậu thư sang chữ Nho và đưa thư vào thành cho Hoàng Diệu. Thư đại ý rằng, từ khi tới Hà Nội, Henri Rivière đã nhận thấy sự ngờ vực và kình địch từ phía thành Hà Nội. Khi sĩ quan Pháp định vào thành, Hoàng Diệu truyền đóng cổng. Rivière trực tiếp đến gặp Hoàng Diệu để phàn nàn, nhưng vị Tổng đốc không chấp nhận, và cũng không thèm tới thăm đáp lễ ở sở chỉ huy Pháp. Không những thế, ông còn triển khai các công trình tạo tác phòng thủ trong thành một cách không giấu giếm. Henri Rivière đe, thành Hà Nội đã trở thành mối họa nhỡn tiền đối với Pháp, và Pháp sẽ buộc phải ra tay trừ khử.

Tối hậu thư của Henri Rivière chốt hạ: quân đội Pháp cho ông Hoàng Diệu một cơ hội để làm lành. Vào đúng 8h sáng, Tổng đốc Hà Nội phải giải trừ quân bị, ra lệnh cho binh sĩ mở tất cả cửa thành, rồi cùng toàn bộ các quan viên trong thành tới trình diện tại Lãnh sự quán Pháp. Quân Pháp sẽ tiếp quản, triệt bỏ tất cả các công trình phòng thủ, rồi chừng hai, ba ngày sau sẽ trả lại thành nguyên vẹn cho Hoàng Diệu. Nếu đúng 8h mà Hoàng Diệu không có mặt, quân Pháp sẽ tấn công thành.

Thông ngôn Phong cầm bức tối hậu thư tới cổng thành Hà Nội vào lúc 6 rưỡi sáng. Y trao thư cho người lính canh, nói dối rằng sẽ đợi thư phúc đáp để người lính canh chịu cầm thư vào thành, nhưng ngay sau đó đã trở lại ngay khu nhượng địa do Pháp quản lý bên ngoài thành. Lúc này, Henri Rivière và các bộ hạ đã sửa soạn tiến công.

Trong thành, Tổng đốc Hoàng Diệu hội ý cùng các thuộc cấp. Họ nhất trí rằng trước hết cần câu giờ để kịp thời bố trí phòng thủ cũng như liên lạc viện binh. Án sát Tôn Thất Bá nhận làm đại diện tới trại lính Pháp để đưa thư phúc đáp, kéo dài thời gian giao nộp thành thêm một ngày. Khoảng 7 rưỡi, ông Tôn Thất Bá đến trại Pháp, chỉ gửi thư tay xin hoãn cho lính canh bên ngoài, rồi lỉnh một mạch lên trốn ở làng Mọc (Nhân Mục, Nhân Chính, Thanh Xuân) chứ không trở về thành. Khi thành đã mất, Tôn Thất Bá mới xuất hiện để trình diện, và ê chề thay, chẳng nề hà gì mà giúp Pháp một tay thực hiện ý đồ chính trị (để rồi sau đó dường như ông này nhận được khoản lót tay trị giá 1 vạn quan tiền nhờ vụ bán độ vào phút bù giờ). Chuyện trong thành xin hoãn, Henri Rivière tất nhiên không thuận, nhưng cho rằng không cần trả lời. Cứ đợi đến 8h mà Hoàng Diệu không đến trình diện thì Pháp sẽ nổ súng.

Cụ thể diễn biến đánh thành được Henri Rivière ghi lại trong tờ trình gửi về Bộ Hải Quân như sau: lực lượng Pháp có 450 thủy quân lục chiến, 130 thủy binh, 20 thủy pháo binh, tổng cộng 8 đại bác 40 ly, 1 đại-bác 120 ly, 20 lính bản-xứ. Ngoài ra, còn 3 chiến thuyền đậu ngoài bến sông Hồng, gồm La Fanfare (Dàn Kèn Đồng), La Massue (Dùi cui), La Hache ( Cái Búa). Theo thông ngôn Phong, tàu La Surprise (Kinh Ngạc) cũng được triệu tập nhưng bị mắc cạn trên đường ngược sông từ Hải Phòng vào nên không đến kịp.

Đúng 8h15, quân Pháp bắt đầu khai chiến. Từ lúc ấy tới 10h15, đại bác từ các chiến thuyền bắn dồn dập vào thành, trong đó khoảng 9h15 trở đi là bắn tập trung vào Cửa Bắc và khoảng thành từ Cửa Bắc tới pháo đài góc Tây Bắc. Đồng thời, một toán quân nhỏ tiến đánh nghi binh ở cửa Đông. Kho thuốc súng trong thành được Hoàng Diệu tích trữ mấy ngày qua trong Hậu Lâu đột ngột phát nổ. Phía Pháp báo cáo vụ nổ là do trúng pháo kích của Pháp, phía Đại Nam thì cho rằng bị gian tế đốt. Sự thật thế nào không rõ, nhưng thực tế phũ phàng là Hoàng Diệu đã mất đi một phần vốn liếng để thủ thành.

Trong lúc đại bác tiếp tục bắn cấp tập, lực lượng chính của Pháp từ Đồn Thủy (Đồn Thủy Quân – khu nhượng địa được nhà Nguyễn trao cho Pháp quyền kiểm soát, nay là khu vực dọc bờ sông từ phố Tràng Tiền kéo dài tới BV 108, BV Hữu Nghị) hành quân dọc theo đê sông Hồng tiếp cận Cửa Bắc. Đại bác vẫn tiếp tục pháo kích vào trong thành với mục tiêu là các doanh trại và kho tàng. 10h15, pháo binh ngừng bắn để lính xung phong. Quân Pháp bắc thang trèo lên thành.

hành cung trên nền điện Kính Thiên (ảnh từ thời Pháp)

Lúc này, phía trong thành, Bố chính Phan Văn Tuyển, Đề đốc Lê Văn Trinh và các lãnh binh đều bỏ thành chạy. Tổng đốc Hoàng Diệu chỉ huy quân lính chống cự trên Cửa Bắc tới phút cuối cùng. Khi quân triều đình đã bị đẩy lùi, quân Pháp dần chiếm lĩnh cổng thành, biết đại thế đã mất, ông lên Hành cung bái vọng rồi ra Võ Miếu tuẫn tiết. Đại Nam thực lục chép, thành mất vào khoảng giờ Mùi (1h – 3h chiều).

Khoảnh khắc trước khi Hoàng Diệu tuẫn tiết được cụ Nguyễn Đình Trọng – người từng làm suất đội hộ vệ của Tổng đốc Hoàng Diệu kể lại trên báo Tri Tân: quân Pháp tấn công dồn dập vào Cửa Bắc. Đề đốc Lê (Văn) Trinh giữ cửa Đông bỏ chạy, Lãnh binh Lê Trực núng thế cũng tháo lui. Tổng đốc Hoàng Diệu lên voi chạy vào Hoàng cung, vào sân rồng, lạy năm lạy, vừa lạy vừa khóc, rồi quay ra. Lúc ấy, Hoàng Diệu chít khăn xanh, mặc áo the thâm, thắt lưng nhiễu điều, tay cầm kiếm. Ngài đến Võ Miếu thì xuống voi đi vào, theo sau có mười người suất đội. Hoàng Diệu đuổi cả ra, bảo: “Ai muốn về Huế thì về, còn ai muốn đánh thì theo lên quân thứ Sơn Tây” rồi treo cổ trên một cây táo (thông ngôn Phong thì thuật lại là cây ổi).

Thông ngôn Phong kể, khi vào thành, quân Pháp không biết Hoàng Diệu ở đâu. Tới chừng 4h chiều mới có người nói rằng Hoàng Diệu đã treo cổ chết. Lúc này, tùy tùng của ông đã kịp chôn ông xuống ở gần nhà Học Chính nơi phía đầu đường Nguyễn Khuyến ngày nay. Henri Rivière lệnh thông ngôn Phong tới xác minh thực hư. Tên này lệnh cho người hầu bới đất lên để nhận mặt Hoàng Diệu, thì thấy quanh cổ ông còn quấn tấm khăn nhiễu xanh mà ông đã dùng để treo cổ.

Quân Pháp vào thành, triệt phá các công trình phòng thủ trước đây, đồng thời xây doanh trại đồn trú binh sĩ ngay trong thành. Henri Rivière đặt sở chỉ huy của mình ngay tại Hành cung (điện Kính Thiên) – nơi mà như y nhận xét, vị trí rất tốt, nếu như không nói là tiện nghi thì ít ra cũng có thể coi là rất thích hợp. Năm 1883, bị giết sau khi đụng độ với quân Cờ Đen, chính Henri Rivière lại được đem về đây và chôn ngay dưới điện Kính Thiên, mãi tới khi Pháp bàn giao lại thành Hà Nội cho triều Nguyễn, ông này mới được bốc mộ đi.

Trong bản phúc trình gửi về chính quốc, Rivière cho rằng, việc Hoàng Diệu tự tử là một điều lợi cho Pháp. Bởi ông Hoàng là người có uy tín, được trọng vọng. Nếu Hoàng Diệu thoát được rồi hiệu triệu nhân dân, liên lạc với Quân thứ Sơn Tây do Hoàng Kế Viêm chỉ huy, chắc hẳn ông sẽ còn gây nhiều khó khăn hơn nữa đối với quân đội Pháp. Điều này không sai, nhưng nó cũng không hề khiến cuộc đời ông tệ đi tí nào. Tư tưởng, suy nghĩ của ông được bồi đắp từ xã hội xung quanh ông. Khó có thể đòi hỏi ông suy nghĩ như một người Pháp hay một người ở thế kỷ 21. Vả lại, nếu Hoàng Diệu bỏ trốn để được toàn mạng, bỏ lại đằng sau tất cả quân lính và bộ thuộc, liệu ông có còn uy tín, còn được coi trọng, còn sức hút để tập hợp nhân dân nữa hay không? Điều quan trọng là ông đã tận lực tận sức trong khả năng của mình.

Đó là một đoạn cố sự ngày Hà Thành thất thủ lần thứ hai và Hoàng Diệu đem cái chết để báo đền nợ nước. Mình vốn chỉ định kể lại một cách khách quan, nhưng cuối cùng vẫn không kìm được mà chen vào luận việc.

Nơi Võ Miếu mà Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết, xưa nằm ở góc Tây Nam thành, bên ngoài cửa Đoan Môn, chính là đoạn cuối phố Hoàng Diệu giao với Điện Biên Phủ bây giờ. Phố Hoàng Diệu và phố Nguyễn Tri Phương nay là hai phố song song nhau, ở sát hai bên Thành, âu cũng là một cách để nhắc kẻ qua đường rằng đừng quên về hai trong số rất nhiều người đã sống và đã chết cùng Hà Nội.

Theo dõi blog

Follow Ngẫu nhiên on WordPress.com

Be First to Comment

Quăng một viên đá/ Tặng một bông hoa ?