Tiếng đại bác ở Đà Nẵng

Cũng ngày 1/9 của 162 năm trước, Liên quân Pháp – Tây Ban Nha do Đô đốc Charles Rigault de Genouilly nổ phát súng đầu tiên vào Đà Nẵng với mục đích tốc chiến tốc thắng, đổ bộ lên đất liền rồi sẽ đánh ra Huế, thu phục toàn bộ triều đình Đại Nam. Phát súng đầu tiên không có nghĩa là bắn đùng một quả rồi thôi. Đạn pháo của liên quân nã cấp tập vào bán đảo Sơn Trà, và cửa sông Hàn đổ ra biển để trấn áp mọi sự phản kháng bằng hải quân của triều đình. Sau đó, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đổ bộ chiếm đồn Điện Hải, An Hải ở Sơn Trà chỉ trong một giờ đồng hồ. Phá vỡ được phòng tuyến phòng ngự ban đầu, quân Pháp lấn sâu vào nội địa. Các tướng triều đình trấn thủ Đà Nẵng người bị trọng thương, người bị cách chức vì bất lực khi thi hành quân vụ. Người Pháp đáng ra đã có thể thực hiện thành công chiến lược của mình với khí thế như trẻ tre, khống chế kinh thành Huế trong một nốt nhạc. Nhưng lịch sử chẳng hề có sự kiện Pháp – Tây Ban Nha chiếm Đại Nam bằng cách từ Đà Nẵng tiến về Huế, bởi mọi chuyện cuối cùng lại không diễn ra theo cách ấy. Một nhân vật khác đã xuất hiện: Nguyễn Tri Phương.

Trước đà tiến công của quân địch, vua Tự Đức cử Thống chế Chu Phúc Minh làm Tổng đốc quân vụ chiến trường Đà Nẵng, điều Nguyễn Tri Phương khi ấy đang là Kinh lược sứ Nam Kỳ về làm Tổng thống quân vụ Quảng Nam, với sự giúp sức của Tham tán Phạm Thế Hiển.

Chân dung Nguyễn Tri Phương khi được bổ làm Khâm mạng đại thần

Trước lúc ấy, Nguyễn Tri Phương hẳn nhiên không phải là một người vô danh. Chưa từng học hành đỗ đạt, Nguyễn Tri Phương đi lên từ một anh thơ lại ở huyện, lần lượt thăng tiến qua các vị trí trọng yếu, lên đến Hồng lô tự khanh, Tổng đốc Long – Tường (Vĩnh Long và Định Tường), Tổng đốc An – Hà (An Giang và Hà Tiên), Khâm sai quân thứ đại thần Trấn Tây… Ông từng đi khai khẩn đất hoang, đi chỉ huy quân đội chống Xiêm ở mặt trận Tây Nam. Đại Nam thực lục chính biên kể đại ý rằng khi ra trận, bên cạnh ông ngoài soái kỳ thì còn hai chiếc lọng che. Đạn bắn rào rào như mưa, tả hữu của ông khuyên nên hạ xuống, tránh để quân địch biết được vị trí của chủ soái. Nguyễn Tri Phương gạt đi, còn sai dương thêm hai chiếc lọng nữa. Thấy vậy, sĩ khí đại thịnh, phá giặc không còn manh giáp. Vua Thiệu Trị nghe chuyện khen không ngớt lời, ban cho Nguyễn Tri Phương hiệu “An Tây trí dũng tướng”.

Dũng mãnh có thừa nhưng cái dũng của Nguyễn Tri Phương không phải là cái dũng của kẻ thất phu. Được giao toàn quyền chỉ huy mặt trận Đà Nẵng, ông không tấn công trực diện mà tập trung xây dựng thế trận phòng ngự vững chắc. Trước hết, ông thiết lập hệ thống chiến lũy tầng tầng lớp lớp, đào hố vót chông ngăn giặc ở phía Sơn Trà và phía bờ biển, bố trí các chốt phòng thủ cách đều nhau để yểm trợ cho nhau chống lại các cuộc tấn công đổ bộ. Ông cho sơ tán toàn bộ dân cư ở khu vực ven biển vào trong, thực hiện chiến lược vườn không nhà trống. Ông chỉ huy giăng xích sắt ngang sông Hàn để chặn chiến thuyền của liên quân tiến sâu theo đường sông. Trong giai đoạn này, quân triều đình không chủ động tấn công và liên quân Pháp – Tây Ban Nha cũng không đánh nống ra ngoài. Khi hệ thống phòng thủ đã tương đối ổn định, Nguyễn Tri Phương tổ chức tấn công du kích, đánh theo từng toán nhỏ, luồn sâu, đánh hiểm rồi sau đó rút đi. Để chống lại tàu giặc, ông dùng chiêu thả lưới cho quấn vào chân vịt, vô hiệu hóa khả năng cơ động của hải quân. Nhờ chiến thuật này, sinh lực của quân đội Pháp – Tây Ban Nha bị tiêu hao, tiến không được, thoái cũng không xong. Năm tháng liền dằng dai, binh sĩ liên quân được tiếp tế thiếu thốn, lại không quen thủy thổ nên lăn ra ốm hàng loạt, tinh thần chiến đấu càng giảm. De Genouilly còn phải viết thư về Pháp kêu ca rằng vốn tưởng đánh An Nam dễ như trở bàn tay mà quân dân ở đây đã đông đảo lại khỏe mạnh không ngờ. Địa hình thì phức tạp, khí hậu lại khắc nghiệt, chỉ hành quân một đoạn mà quân đội Pháp đã đi không nổi rồi nên không thể triển khai tấn công quy mô lớn được. Tình hình quân đội Pháp “xuống dốc đến kiệt quệ”, Đà Nẵng thành khúc xương mà liên quân Pháp – Tây Ban Nha gặm mãi không nổi.

Nản không đỡ được, tháng 2/1859, De Genouilly quyết định chia quân, một mặt tiếp tục giữ vững các khu vực đã chiếm đóng được ở Đà Nẵng, một mặt đưa quân vào đánh Gia Định. Đến cuối tháng 3, quân Pháp còn đồn trú lại cũng rút nốt toàn bộ sau khi phá nổ toàn bọn nơi đồn trú. Trọng tâm của chiến trường được chuyển về phía miền nam. Cuộc tấn công Đà Nẵng lần thứ nhất đã bị nước Đại Nam chặn đứng như thế.

Ở Gia Định, trước tàu to, súng lớn của người Tây dương, quan tướng trấn thủ người tử trận, người tuẫn tiết, người bỏ chạy. Em ruột Nguyễn Tri Phương là Nguyễn Duy đệ đơn xin được vào Nam đánh giặc và được bổ làm Tán lý quân vụ đạo Định Biên. Ban đầu Nguyễn Duy cũng thu được một số thắng lợi. Tuy nhiên, tới năm 1960, cuộc chiến tranh nha phiến lần thứ 2 giữa Anh – Pháp với nhà Thanh đã lặng dần tiếng súng với thắng lợi của liên quân, khiến Pháp có điều kiện để tập trung quân lực bổ sung cho chiến trường Nam Kỳ. Thế giặc ngày càng mạnh.

Chiến thuyền của liên quân Pháp-Tây Ban Nha tấn công thành Gia Định – tranh của Antoine Léon Morel-Fatio (nguồn ảnh: Wikipedia)

Chặn giặc thành công ở Đà Nẵng, Nguyễn Tri Phương tiếp tục được cử vào Gia Định chỉ huy phòng ngự. Tại đây, ông chủ trương chia quân làm ba đạo, lập thế ỷ giốc để ứng cứu lẫn nhau, đặt trọng binh ở đại đồn Kỳ Hòa, tiếp tục đánh chắc, tiến chắc nhằm bao vây lực lượng viễn chinh Pháp. Trên đường thủy, ông xây các chốt chặn bằng đá ong để ngăn cản tàu lớn, đồng thời bố trí các ụ đại bác ở trên bờ, chĩa nòng xuống sông. Song, hệ thống phòng ngự của ông chưa hoàn thiện thì đã bị quân Pháp tấn công dồn dập. Đại đồn Kỳ Hòa bị phá, Nguyễn Tri Phương bị thương, Nguyễn Duy chỉ huy binh sĩ mạo làm Quân thứ Gia Định để thu hút sự chú ý của giặc, cố gắng liều chết đánh chặn, tạo điều kiện cho Nguyễn Tri Phương và bộ chỉ huy rút lui. Ông tử trận trong đám loạn quân. Nói về trận đánh này, chính quân Pháp cũng phải ngạc nhiên vì giữa chiến trường khốc liệt, quân đội triều đình Đại Nam vẫn bình tĩnh và kiên nghị đánh đến phút cuối cùng. Ngay cả khi bị bao vây, thành đã vỡ, đại bác nổ rền trời, họ cũng thấy chỉ có số ít là quay lưng bỏ hàng ngũ, còn lại đều một lòng tử chiến.

Trận Gia Định chưa phải là trận chiến cuối cùng của Nguyễn Tri Phương. Sau chiến bại, ông bị hạ chức. Tới năm 1872, giặc giã ở phía Bắc nổi lên khắp nơi và xuất hiện những va chạm giữa chính quyền với phía Pháp, Nguyễn Tri Phương một lần nữa lại được trao trọng trách Khâm mạng đại thần, toàn quyền xử trí ở đất Bắc.

Tờ mờ sáng ngày hiến chương các nhà giáo 20/11/1873, quân Pháp nổ súng bắn thẳng vào thành Hà Nội. Tòa thành này, từ khi Thăng Long không còn vị thế kinh kì, đã không còn được duy trì khả năng phòng ngự mạnh mẽ nữa. Với quân số ít ỏi, chưa quen chiến trận, lại chỉ được trang bị vũ khí thô sơ, quân triều đình nhanh chóng thất thế. Quân Pháp dưới sự yểm trợ của trọng pháo nhanh chóng mở được cổng thành, tiến sâu vào trong. Nguyễn Tri Phương và con trai là Đô úy Nguyễn Lâm – đương kim Phò mã dù không được cử ra trấn giữ thành, nhưng cũng ở lại cùng cha liều chết chỉ huy quân chống cự. Lực mỏng, binh khí lạc hậu nên quân bảo vệ thành không đối đầu được lâu. Nguyễn Lâm trúng đạn, tử trận tại đương trường, còn Nguyễn Tri Phương cũng bị thương ở bụng và bị giặc bắt sống. Tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu tuẫn tiết tại vườn Võ Miếu. Thành Hà Nội bị phá.

Lại nói Nguyễn Tri Phương bị rơi vào tay giặc. Coi ông là vị tướng tài giỏi nhất của An Nam, người Pháp cố công chạy chữa rồi dụ hàng ông, qua đó lung lạc ý chí kháng cự của quân và dân ta, nhưng ông tuyệt thực, từ chối uống thuốc dù bị thương nặng. Nguyễn Tri Phương chém đinh chặt sắt “Bây giờ nếu ta chỉ gắng lay lắt mà sống, sao bằng ung dung mà chết vì việc nghĩa”. Một tháng sau, ông qua đời.

Cảm động trước sự tiết liệt của ông và gia đình, đích thân vua Tự Đức soạn bài văn tế ba người gồm ông cùng em trai và con trai. Ba người được lập đền thờ tại quê nhà và đồng thời được thờ trong Trung Liệt miếu – nơi thờ những vị anh hùng xả thân vì xã tắc – trước ở gò Đống Đa nhưng giờ đã bị thời gian xóa dấu mất rồi. Ngày nay, trên vọng lâu của Cửa Bắc lỗ chỗ vết đại bác, cụ Nguyễn Tri Phương và cụ Hoàng Diệu cũng được lập ban thờ vì đã sống chết cùng thành Hà Nội.

Ban thờ cụ Hoàng Diệu và cụ Nguyễn Tri Phương trên Vọng Lâu của Chính Bắc Môn (Cửa Bắc) – ảnh mình chụp từ 13 năm trước

Tự dưng nhân dịp mà nổi hứng kể chuyện vậy thôi. Nếu có một lúc nào đó bạn đi qua con đường Nguyễn Tri Phương ở bất kì đâu, thì đó là con đường mang tên một người đàn ông xuất thân từ gia đình làm nghề thợ mộc chứ chẳng phải con ông cháu cha, không theo con đường khoa bảng mà vẫn được trọng dụng, là nguyên lão 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức mà vẫn gia cảnh vẫn đơn sơ đạm bạc, xuất thân quan văn mà cầm quân đánh giặc, và đó cũng là người chặn đứng quân Pháp ở Đà Nẵng, chống Pháp ở Gia Định rồi tử vì nghĩa cùng với sự thất thủ của thành Hà Nội. Ông đã sống một cuộc đời thực sự đáng sống.

Mới ra lò

8 Comments

  1. September 3, 2020
    Reply

    :)) Ồ. Sáng hôm qua mình cũng lượn lờ ra Cửa Bắc để ngắm nghĩa vết đại bác trên cổng thành :3

      • September 3, 2020
        Reply

        :D Dìa dia, đã đọc ạ. Tiếc là mình chưa được leo lên thăm quan cái Vọng lâu í lần nào. Mấy lần vào Hoàng thành cũng không lên được vì người ta cấm thang. :'( Ghét một cái nữa là cổng thành xưa các cụ xếp đá ong vs gạch rõ xịn thế mà tu sửa thì con cháu ốp luôn quả gạch bất tử trắng phếu. càng nhìn càng ghét không chịu được. ><

        • Thăng Long đệ bét kiếm
          September 3, 2020
          Reply

          gạch trắng ở đâu ấy nhỉ? Có cái vọng lâu được xây lại sau này thì trông nó hơi lởm tí, còn cổng thành về cơ bản là không khác xưa. Cả trong thành nội, trừ những thứ bị phá và một số nhà cơi nới hồi chiến tranh để làm Cục tác chiến, còn lại không được đắp vá thêm mấy đâu. So với Ga Hà Nội thì thế là nguyên bản lắm rồi đấy.

          • September 3, 2020
            Reply

            gạch trắng ngay mặt cổng í ạ. hôm nào huynh đài thử ngó qua xem có phải hôn? :/

            • Thăng Long đệ bét kiếm
              September 3, 2020
              Reply

              ở khuôn cổng á? Nếu mình không nhầm thì trong các ảnh chụp của người Pháp từ những năm hồi đó thấy nó cũng vậy mà. Ngày xưa trước cổng còn có hộ thành hà và có cầu bắc qua nhưng giờ dĩ nhiên là thành đường Phan Đình Phùng rồi.

              • September 3, 2020

                Đúng r ạ. :'( nếu vậy sao họ lại ốp tí đá trắng vào thế ạ? :/

              • Thăng Long đệ bét kiếm
                September 3, 2020

                ủa kiểu nó thế mà. Kiếp trước mình lại không phải kiến trúc sư thiết kế cái cổng nên cũng không hiểu nó có tác dụng gì ngoài việc bo viền để cho đẹp. Kiểu toàn đá ong một màu thì trông nó nhàm mắt ấy. À không, có thể nguyên nhân khác là đá đó xẻ để tạo hình vòm cửa dễ hơn và khớp hơn. Đá ong thì khi mới đào lên nó mềm, dễ cắt khoanh vuông vắn nhưng để dưới nắng nó rắn lại sẽ rất khó tạo hình, đặc biệt là để thi công các đoạn ghép nối cong ấy. Có thể phần cốt vòm làm bằng đá để chịu lực rồi ốp gạch. Còn muốn biết chắc chắn thực ra tại sao lại thế thì chỉ có cách gọi hồn các cụ xây thành lên hỏi thôi. Có điều hôm qua vừa rằm tháng 7, cổng âm ty lại đóng rồi, chứ hỏi sớm mấy hôm biết đâu đêm các cụ báo mộng giải đáp cho : ))

Quăng một viên đá/ Tặng một bông hoa ?