Đáy giếng

Mình vừa hoàn thành một chuyến đi dài ngày nhưng chỉ loanh quanh chủ yếu vùng trung du tới sát chân dãy Trường Sơn, đoạn chạy qua Huế và Quảng Trị.

Quảng Trị chắc là cái tên xếp cuối bảng trong danh sách các điểm đến du lịch của mọi người. Nhìn lướt qua, miền đất ấy chẳng có gì ngoài đau thương mất mát, những địa danh đậm mùi khói lửa chiến tranh. Lịch sử là chuyện cần giở đi giở lại đã đành, nhưng bên cạnh đó, Quảng Trị còn mang trong mình những trầm tích sâu hơn, xa hơn, ẩn mình kỹ hơn và nhiều khi có phần huyền bí. Rất nhiều dấu vết quá khứ đã bị cuốn đi theo những đợt sóng thời gian, nhưng những gì còn lại cũng đủ để làm mình sửng sốt. Thành thực mà nói, 70% mục đích đi Quảng Trị của mình chỉ là để lê la đến xem mấy cái giếng. Mỗi mấy cái giếng thôi.

Giếng ở Quảng Trị không phải là loại mà bạn sẽ nghĩ đến khi nghe đến từ “giếng”.

Suốt dải miền Trung, bên cạnh những đền tháp và phế tích huy hoàng, người Chăm còn để lại dấu ấn là những giếng cổ – bằng chứng của kỹ thuật tìm kiếm, quản lý và sử dụng nguồn nước tự nhiên thuộc hàng độc bộ võ lâm. Đó là giếng Bá Lễ nổi tiếng ở Hội An, giếng Xó La nằm cách biển tầm 20m ở Lý Sơn mà dòng nước lúc nào cũng trong trẻo ngọt ngào, không cạn, không nhiễm mặn ngay cả những ngày hạn kỷ lục. Đó là đập Nha Trinh ở Ninh Thuận và hai kênh dẫn – công trình do vua Po Klong Garai khởi xướng đem lại dòng nước tưới tiêu mát lành cho miền đất đã ít mưa nhất Việt Nam lại còn gió như phang, nắng như rang. Thời kỳ Đông Dương, người Pháp từng đắp một đập mới cách Nha Trinh một đoạn, nhưng mùa lũ tới đã cuốn phăng mất. Còn đập Nha Trinh đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn được củng cố, tu bổ và sử dụng. Cùng với những đợt chinh phạt của các vương triều Đại Việt khi ca khúc khải hoàn đã dẫn theo hàng binh, thợ thuyền, nhiều dấu ấn giếng Chăm cũng xuất hiện ở đồng bằng Bắc Bộ như Sơn Tây, Thạch Thất, Đan Phượng hay thậm chí trong các giếng cổ còn bảo tồn đến nay trong Hoàng thành Thăng Long. Khi không nhìn từng giếng nước như những hiện tượng đơn lẻ mà liên kết chúng với nhau trong một hệ thống toàn diện: cấp nước, trị thủy, canh tác, bạn sẽ thấy giếng Chăm là một tinh hoa tri thức dân gian nay đã thất truyền.

Giếng Xó La ở đảo Lý Sơn. Đây là loại giếng đóng, với kiểu dáng điển hình mà bạn sẽ liên tưởng tới khi nghe từ khóa “giếng”, nhưng vẫn mang theo những đặc trưng của kỹ thuật tìm nguồn nước, kỹ thuật đào giếng, xếp đá thành giếng. Bản thân các phiến đá đáy giếng cũng đóng vai trò như một lớp lọc nước. Nơi đặt giếng chỉ cách biển chừng 20m nhưng những ngày hạn nặng, nước giếng cũng không bị nhiễm mặn.
Lòng giếng được xếp đá chồng lên nhau. Dưới đáy giếng Chăm kiểu này thường có một khung gỗ làm bằng các loại thiết mộc, chịu nước, vẫn bền vững sau hàng trăm năm. Khung này được cho là để giữ khuôn khi đào giếng xuống, tránh bị lở hàm ếch, đồng thời chịu lực cho tầng thân giếng phía trên tì lún đều.

Là đất sống cổ xưa của người Chăm, chỉ sáp nhập vào Đại Việt sau cuộc hôn phối đẹp đẽ ngắn ngủi của Huyền Trân công chúa với vua Chế Mân, Quảng Trị sở hữu một hệ thống giếng có tuổi đời trên một ngàn năm, từ thế kỷ thứ 8-10. Giếng cổ ở đây có nhiều hình thức khác nhau: giếng đóng là lối đào sâu xuống đất để khai thác nước ở tầng sâu như các loại giếng phổ thông khác, giếng mở là một vũng rộng được quây đá, nước phun thẳng từ mạch lên lòng vũng, giếng máng là các máng đá được cắm vào mạch nước ở phương ngang, tạo thành vòi chảy liên tục xuống vũng bên dưới. Trừ các giếng đóng, còn giếng mở và giếng máng đều kết nối với các mương nước để dẫn thủy nhập điền một cách liên hoàn: trong vũng, phần đầu mạch nước được dùng để lấy nước cúng tế thần linh và để ăn uống, phần sau được dùng để tắm giặt, rồi nước được gom vào kênh, đưa tới các vũng tắm cho trâu bò, cuối cùng theo các mương chảy vào đồng ruộng. Dòng chảy của nước liên tục không ngừng nên không bị tù đọng, không trở thành môi trường của ruồi muỗi sinh sản được. Đứng trên đồi cao mới thấy cả hệ thống được thiết kế khoa học, ăn ý, tận dụng được nguồn nước một cách tối đa.

Giếng Gai (hay Giếng Gái). Đây là một cụm ba giếng nằm gần nhau gồm Giếng Gai, Giếng Ông và Giếng Bà. Người Chăm xưa quy hoạch và phân chia đối tượng sử dụng theo từng giếng: đàn ông dùng Giếng Ông, các bà dùng Giếng Bà, các cô gái còn son sẽ dùng Giếng Gái.

Giếng Ông. Khe đá giữa ảnh là nơi mạch nước giếng.

Mỗi khu vực giếng cổ đều là vùng có nguồn nước dồi dào, nên cây cối phát triển hết ga hết số, cùng với cấu trúc thềm đá, bờ đá, kênh dẫn xếp đá trở thành một vùng cảnh quan xanh tươi, hài hòa. Ông bạn đi cùng còn quay sang hỏi: “Chỗ này là cây cỏ nó tự mọc chứ không phải người ta thiết kế đúng không? Sao trông cứ như ở resort nhỉ?”

Giếng Bà. Chỉ riêng giếng này mình thấy một tảng đá nhô lên giữa lòng giếng, kiểu cách dường như không phải là tình cờ. Không rõ tảng đá này nhằm đánh dấu hay là biểu tượng tự nhiên của linga? Ba giếng gần nhau để phục vụ sinh hoạt của cùng một cộng đồng dân cư nhưng vẫn đảm bảo sự riêng tư, kín đáo: đứng từ giếng này không nhìn thấy giếng kia, đứng trên đường nhìn xuống cũng không thấy bên trong lòng giếng.

Vì nước tuôn ra liên tục, lòng giếng luôn thanh thoát, tạo nên dòng chảy một chiều ra kênh dẫn. Xung quanh các giếng Chăm cổ ở Gio An là các ruộng rau liệt – loại rau trồng trên nền đất đá nhưng ưa nước, mà phải là nước sạch mới chịu.
Hệ thống kênh dẫn thủy nhập điền
Cảnh quan giếng Búng
Lòng giếng Búng. Giếng Búng nằm ngay gần giếng Trạng, cách một lòng đường chạy ngang qua.

Đẹp và thú vị nhất trong số các giếng mỉnh từng đến là giếng Trạng ở làng An Nha, Gio Linh. Hệ thống giếng ở đây gồm một bể lớn có ba máng và một bể nhỏ hơn chỉ có một máng. Máng được đục lõm để dẫn tuyến, lòng mài nhẵn. Ngắm nghía xung quanh rải rác vẫn còn một số phiến đá có lẽ từng được tạo tác thành máng nhưng bị lỗi, bị gãy, được tận dụng để xếp kè miệng giếng hoặc thành kênh nước. Nước giếng nào cũng trong vắt, mình nếm thử thì nước giếng ngọt thanh, kiểu ngọt của nước mang khoáng nhưng không gây ráp lưỡi, có nét giống nước suối núi Vũ Di mà mình từng uống. Còn cụ thể giống ở đâu, khác ở chỗ nào, mình chịu, mồm mình có phải máy điện phân hay sắc khí ký quái đâu.

Giếng trên có một máng

Đến giờ người dân địa phương vẫn có ý thức giữ gìn vệ sinh và sử dụng giếng thường xuyên. Những ngày hạn hán đỉnh điểm, các giếng Chăm là nguồn sống của một miền đồng ruộng tốt tươi xung quanh. Bên cạnh những kỹ thuật dò nguồn nước tuyệt đỉnh, quy hoạch giếng ngăn nắp, hợp lý, mình thấy người Chăm thể hiện một thái độ trân trọng, nương theo và hòa hợp với thiên nhiên thay vì chiếm hữu và cưỡng bách. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến các thương cảng Chăm Pa trở thành điểm đến, là nguồn cung cấp nước ngọt cho các thuyền buôn trên khắp thế giới, và ngàn năm sau, dòng nước mát lành ấy vẫn bền bỉ tuôn chảy không ngừng, từ lòng đất tới nuôi dưỡng con người, tưới tắm cây cỏ, rồi ngấm ngầm trở lại trong lòng đất.

Giếng dưới

Nếu kiếp sau là ếch, cần gì phải làm hoàng tử, chỉ ngồi dưới đáy những giếng nước nghìn năm này để nhìn lên khoảng trời rộng mở bên trên cũng chẳng đẹp sao?

Theo dõi blog

Follow Ngẫu nhiên on WordPress.com

2 Comments

  1. La Thanh Ha
    Tháng 4 3, 2025
    Reply

    Wow, hay quá anh ơi! Lần đầu được biết giếng cũng phong phú thế này.

    • Thăng Long đệ bét kiếm
      Tháng 4 3, 2025
      Reply

      Mình thấy văn hóa và kỹ thuật cổ của Champa có rất nhiều thứ hay ho để khám phá, trong đó có những cái biểu hiện rõ ràng ngay trước mắt như các hoa văn, họa tiết của Hoàng thành Thăng Long chẳng hạn. Riêng kiểu giếng ở Quảng Trị là một trường hợp độc nhất vô nhị, chưa thấy xuất hiện dạng tương tự ở bất kì địa phương nào khác, kể cả các vùng thành cổ Champa trước kia, chưa nói tới độc đáo so với thế giới. Nên có một số quan điểm cho rằng các giếng (mà trông không giống cái giếng này) không phải là của người Chăm mà là cư dân trước đó (không rõ cụ thể là cư dân nào, có phải người Bru giai đoạn tiền Champa?) hay có giả thiết là của cư dân giai đoạn Nguyễn Hoàng vào mở đất (mà niên đại không xa đây lắm thì công nghệ này thất truyền chỗ nào rồi?). Mình thì mình thấy nó khớp với kỹ thuật dò tìm nguồn nước của người Chăm, nhưng vì sao hình thức lại khác biệt một cách phức tạp hơn hẳn như thế thì chịu.

Trả lời phản hồi cho La Thanh HaHủy