Ngày xưa, ai hay nghe radio hẳn đều quen thuộc với nhạc hiệu của đài Hà Nội, chính là khúc đầu bài Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi:
“Đây hồ Gươm, Hồng Hà, hồ Tây,
Đây lắng hồn núi sông
ngàn năm…”
Thật ra, chỉ có những trí thức sinh ra và lớn lên trong thời Pháp thuộc trở đi mới quen thuộc với cái tên Hồng Hà. Kể cả “sông Hồng” cũng là một cách gọi khá mới mẻ so với con sông đã chảy trôi vắt ngang qua nhiều thế kỷ này.

Người Pháp, không hiểu vì sao, có một phương pháp đặt tên các thứ rất chi là nôm na mách qué. Họ thấy sông Hồng đỏ quạch phù sa nên tương ngay cái tên Rivière Rouge – Sông Đỏ. Tên sông Hồng ngày nay bọn mình vẫn gọi một cách quen thuộc là từ đó mà ra. “Hồng Hà”, nghe có vẻ Hán Việt, cũng từ đó mà ra. Cùng lúc, họ gọi sông Đà là Rivière Noire – Sông Đen vì dòng nước sâu, sẫm màu mà dòng sông lại chả chết tên ấy, không Nguyễn Tuân sẽ có tùy bút Người lái đò Hắc Hà nghe phát khiếp lên được chứ chơi đâu. Thoạt nghe lại tưởng người lái đò qua sông Styx. Hoặc con Rivière Claire sẽ khiến Văn Cao viết Trường ca Sông Trong nghe nó êm đềm bùm chát chát, chẳng hùng tráng được như Trường ca Sông Lô gì cả. Danh phận khác nhau có lẽ là do mức độ ảnh hưởng của người Pháp trên vùng thượng lưu nơi sông Lô, sông Đà không thể so được với nơi đồng bằng sông Hồng phồn hoa đô hội vừa tụ tập các trường học chữ quốc ngữ, lại tụ tập các trí thức Tây học hoặc ít ra cũng là những ông quan đã qua trường Hậu bổ.
Trước đấy, sông Hồng có rất nhiều tên gọi cho từng đoạn sông, nhưng cách gọi lâu dài chính thức nhất cho khúc chảy qua Hà Nội là Nhĩ Hà. Nhĩ là cái tai, vì con sông chảy vòng qua kinh thành như một vành tai lắng nghe thiên hạ chứ không phải Nhị Hà như một số người hiểu nôm na rằng giữa sông có bãi bồi chia nước hai dòng như 2 con sông. Cách hiểu sai lầm này có lẽ mới xuất hiện gần đây, vì chữ Hán “Nhĩ” với “Nhị” chẳng dễ nhầm sang nhau như chữ quốc ngữ.
Nhưng giới bình dân trong nghìn năm qua chắc không thích dùng những tên chữ nghĩa lằng ngoắng. Họ gọi con sông lớn nhất, quan trọng nhất cả về mặt quân sự và kinh tế của thành Thăng Long là sông Cái. “Cái” là to, như trống cái là chiếc trống to nhất trong dàn trống. Nhưng “cái” cũng tượng trưng cho nguồn sống. Câu ca dao:
“Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng”
từng gây ra tranh cãi về đoạn “nuôi cái cùng con” là về nuôi mẹ già và đàn con hay nuôi con gái, con trai. Phổ biến nhất là cách hiểu “cái” là mẹ, nhưng quan điểm ngược lại lý luận rằng thế “con cái” là gì? Kiểu như bạn than “con mới chả cái!” thì rõ ràng có liên quan gì đến mẹ ở nhà đâu mà lôi vào, đúng không? Thời “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, con trai thì gọi là “con”, con gái là “cái”, thay vì cách gọi bao quát như hiện nay. Như thế, “cái” là biểu tượng của tính nữ, của sự sinh sôi nảy nở nói chung.
Cũng như khi trồng cây mà lâu lâu cây không ra hoa, đậu trái, người ta có chiêu cắt đi cành đực – là những cành gầy, mảnh, ít sức sống để cây dành nhựa sốngnuôi cành cái – những cành mập mạp, khỏe mạnh thường được cho là nơi cho hoa trái.

Có lẽ vì thế mà người Kinh, khi di cư vào các vùng đất mới, thường gọi những dòng sông chính chảy qua là Sông Cái, như ở Phan Rang (Panduranga), Nha Trang (Yatrang) đều có cả. Đó đều là những con sông lúc lặng lẽ dịu êm, lúc tràn bờ hung dữ, đã nuôi dưỡng những người con xa quê cha đất tổ.
Còn con sông Cái của kinh thành vừa đem lại nguồn sống, đồng thời là nơi trú ẩn giữa mâu thuẫn kinh niên của một xã hội trọng nam khinh nữ nhưng không thể lảng tránh được sự quan trọng của người đàn bà, mang theo cái bóng đổ dài của mẫu hệ trong những chế độ phụ quyền nối tiếp nhau suốt mấy nghìn năm như nước chảy qua cầu.

Cảnh cầu Long Biên trong ngày trời trong đẹp thật kiếm khách ạ.
cầu Long Biên vẫn luôn là một mảnh ký ức của Hà Nội. Hy vọng rồi nó sẽ không bị phá dỡ bán sắt vụn nhưng cũng không còn bị bạo hành nữa.