Ở phía cuối đường

Năm 1980, một cặp đôi nghệ sĩ trình diễn nảy ra ý tưởng thực hiện chuyến đi dọc Vạn Lý Trường Thành, mỗi người khởi hành từ một đầu và khi gặp nhau ở điểm giữa, bất kể đó là nơi nào, họ sẽ kết hôn. Họ đặt tên cho dự án nghệ thuật này là The Lovers.

Đó là đoạn giữa của câu chuyện, một câu chuyện rất dài mà thường người ta cũng chỉ thích kể mỗi đoạn giữa.

Marina Abramovic và Ulay là hai nghệ sĩ trình diễn (performance art) độc lập, tình cờ gặp nhau lần đầu tiên khi thực hiện chương trình cho đài truyền hình tại Amsterdam vào năm 1975. Hôm đó chính là ngày sinh nhật của cả hai, vì cũng lại tình cờ, họ sinh cùng ngày cùng tháng, khác mỗi vài năm. Ngay lập tức, họ cảm thấy người kia chính là hình ảnh của mình, một sự vừa vặn đến kỳ lạ. “Dường như chúng tôi là một cơ thể có 2 cái đầu” – họ nói về chính mình như vậy. Cặp đôi nhanh chóng đổ sập vào nhau: yêu nhau, sống cùng nhau trên một chiếc xe van hiệu Citroen cũ kỹ cùng một con chó và lang bạt biểu diễn khắp nơi.

Marina Abramovic và Ulay bên chiếc xe van (ảnh trong kho lưu trữ của Marina Abramovic. Lấy lại từ The Guardian)

Không phải đợi tới khi gặp nhau, Marina Abramovic và Ulay mới có những tác phẩm đáng chú ý. Với tư cách những nghệ sĩ đơn độc, họ đã mang tới thế giới những cuộc trình diễn táo bạo, cất lên những tiếng nói nhỏ, nhưng rõ ràng. Họ là những cá nhân nghệ sĩ đang vật lộn tìm kiếm “cái tôi”, cũng là tìm kiếm hình ảnh phản chiếu của chính mình và thế giới trong quá trình tương tác với công chúng mà không có bất cứ biên giới cản ngăn nào. Nhưng tới khi có nhau, họ trở nên trọn vẹn hơn. Những tác phẩm nghệ thuật trình diễn của Marina và Ulay thường có kết cấu đối xứng và cân bằng tuyệt đối, cùng khát khao về sự kết nối thông qua việc đẩy ngưỡng chịu đựng của bản thân vượt qua mọi giới hạn. Cùng nhau, họ tạo ra một nguồn năng lượng thứ ba, không phải tôi, không phải anh, mà là “Cái Tôi khác”, một cá thể nghệ thuật phi giới tính, phi vật chất.

Có thể kể tới những tác phẩm như Relation in Time (1977), Marina và Ulay ngồi quay lưng rồi thắt chặt đuôi tóc của họ vào nhau và giữ nguyên tư thế này không cử động trong 16 tiếng đồng hồ. Khi thời gian này kết thúc cơ thể đã đến hồi rệu rã, họ tiếp tục giữ nguyên tư thế thêm 1 tiếng để công chúng có thể tới xem.

Relation in Time (1977 – Bologna, Italy) Nguồn ảnh: The Museum of Modern Art

Hoặc trong Breathing in/Breathing out (1977-1978), Ulay và Marina nhét đầu lọc thuốc lá vào mũi để ngăn việc hít thở qua mũi, đồng thời giữ tư thế gắn chặt miệng vào nhau. Khi người này thở ra cũng là khi người kia hít phần không khí đó vào qua miệng trong một hệ kín gần như hoàn toàn, không có luồng dưỡng khí bổ sung nào khác. Hơi thở của người này là nguồn sống của người kia, và ngược lại. Họ duy trì tình trạng này trong 19 phút 30 giây, cho tới khi hai người gần như sắp sửa ngất lịm.

Breathing In/Breathing Out (1977 – Belgrad, Serbia) Nguồn ảnh: wikiart.org

Hay Rest Energy (1980), Marina đặt bản thân vào một bối cảnh hết sức rủi ro: cô và Ulay đứng đối diện nhau, Marina cầm vào cán cung, còn Ulay nắm phần đuôi của mũi tên đang đặt trên dây cung. Cả hai sẽ cùng nghiêng người về hai phía ngược nhau, khiến cho dây cung căng lên và mũi tên hướng về phía tim Marina. Một micro được đặt trên ngực, gần tim hai người để ghi lại tiếng tim đập và hơi thở. Màn trình diễn kéo dài trong hơn 4 phút. Marina sau đó cho biết, với cô, quãng thời gian ngắn ngủi ấy dài như cả đời người, vì để trình diễn thành công, cả hai cần sự tin tưởng tuyệt đối vào nhau, và cô đã phó mặc hoàn toàn bản thân trong tay Ulay.

Rest Energy (1980 – Amsterdam, Netherlands) Nguồn ảnh: The Museum of Modern Art

Nói chung còn rất nhiều cuộc trình diễn khác mà mình không thể kể hết ở đây được, nhưng hầu hết đều rất phê. Nó là những ý tưởng điên rồ hoàn hảo được đẩy tới những giới hạn chênh vênh cuối cùng, chỉ có thể thực hiện bởi hai người nghệ sĩ dành trọn vẹn sự cống hiến về nhau.

Tới đầu những năm 1980, Marina và Ulay bắt đầu dự án nghệ thuật The Lovers. Họ chính thức công bố dự án này vào năm 1983, nhưng ý tưởng đã xuất hiện từ trước đó vài năm, họ đã bàn bạc với nhau rất nhiều để đi đến một kế hoạch chung. Lần đầu tiên cả hai nảy ra ý định thực hiện cuộc trình diễn này là khi họ đang sống với những người thổ dân giữa sa mạc Úc, và đọc được rằng theo các phi hành gia, Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc và Kim tự tháp Ai Cập là hai công trình nhân tạo hiếm hoi có thể nhìn thấy được từ mặt trăng. Thông tin này thật ra là fake news. Chính các nhà du hành vũ trụ của Trung Quốc, sau này, khi bay vào vũ trụ cũng đều ngơ ngác ơ có thấy Trường Thành ếu đâu mà đứa nào đặt điều.

Thế nhưng Vạn Lý Trường Thành, công trình xây dựng cổ xưa khổng lồ vốn được coi là biểu tượng của sức lao động con người, thực sự đang sừng sững giữa một thế giới bí ẩn, là sự tái hiện của dải Ngân hà trên mặt đất, là một con thần long với đầu ở biển Bột Hải, thân chìm trong những dãy núi cao và đuôi ở sa mạc Gobi.

Là đàn ông và mang tinh thần của lửa, Ulay sẽ khởi hành từ sa mạc, còn Marina, là phụ nữ với biểu trưng là nước, cô sẽ đi từ phía biển. Từ hai đầu của Vạn Lý Trường Thành kéo dài hơn 5000km hoang vu, họ sẽ đi bộ, một mình, không cần một chỉ tiêu quãng đường cụ thể cho mỗi ngày. Họ sẽ đi hết khả năng tới chừng nào chân chùn, gối mỏi, tối sẽ dựng lều ngủ dưới ánh sao và sáng hôm sau sẽ lại bước tiếp cho tới khi gặp nhau ở đâu đó giữa đường. Bất kể điểm hội ngộ là nơi nào, họ cũng sẽ làm lễ cưới ở đó. Dự án này là sự kết tinh song trùng của cả nghệ thuật và cuộc sống, khi họ thể hiện sự gắn bó không chỉ trong biểu diễn mà cả trong thề ước cuộc đời.

The Lovers đã được lên kế hoạch kỹ lưỡng, Ulay đã tính cả chuyện sẽ mang theo những thực phẩm, đồ đạc gì để hoàn thành quãng đường hơn 5000km chia đôi không đều ấy. Họ xác định trước đó sẽ là một quãng đường khó khăn. Có điều, họ chưa lường trước được mức độ khó khăn ngoằn ngoèo của cơ chế hành chính quan liêu Trung Quốc đương thời. Nhà cầm quyền Trung Quốc không thể hiểu nổi vì sao đang yên đang lành lại có 2 đứa Tây đòi nhập cảnh vào nước mình để đi bộ trên con đường chả ma nào đi. Thời điểm đó, có một số điểm nhất định trên Vạn Lý Trường Thành là điểm thăm quan, nhưng du lịch, nhất là du lịch quốc tế chưa phát triển, Trung Quốc vẫn tương đối đóng cửa với phương Tây, đồng thời phần lớn Trường Thành vẫn là những phế tích hoang vu không ai quan tâm. Trekking chưa phải là một bộ môn giải trí, mà chỉ là một trò hành xác ngu xuẩn. Kiểu như cả cái nước này vừa qua Cách mạng văn hóa khổ bỏ mẹ rồi, sao tự dưng phải ôm khổ vào người thêm vậy? Nên cơ quan chức năng của Trung Quốc rất lấy làm nghi ngờ 2 khứa mắt xanh mũi lõ này nhập cảnh làm trò gì mà kêu là “làm nghệ thuật”. Đề xuất của Ulay và Marina được nâng lên đặt xuống, đòi bổ sung cái nọ bổ sung cái kia, thị thực nhập cảnh được cấp rồi, chừng như vẫn chưa yên tâm, người ta lại thu hồi. Chuyện cứ dằng dai như vậy đến tận năm 1986, Ulay mới có chuyến bay đầu tiên đến khảo sát thực địa, cùng với đó là hàng loạt những trao đi đổi lại của chính quyền Trung Quốc đòi phải trả lời với làm rõ this làm rõ that.

Rốt cuộc, tháng 3 năm 1988, Ulay và Marina mới chính thức thực hiện được chuyến đi của mình. Ulay, với áo choàng màu thiên thanh, đi từ sa mạc Gobi, còn Marina, khoác áo choàng đỏ, khởi hành từ nơi Vạn Lý Trường Thành chạm tới vịnh Bột Hải. Dĩ nhiên, họ cũng phải thỏa hiệp vài điều với nhà cầm quyền Trung Quốc, ví dụ như thay vì đi một mình, họ sẽ có một nhóm quay phim, phiên dịch và vài người lính tháp tùng, dù nhóm này chỉ đồng hành, quan sát, bảo vệ và ghi hình chứ không can thiệp vào chuyến đi. Thay vì dựng lều ngay trên mặt Trường Thành để ngủ hàng đêm, họ sẽ phải rẽ ngang xuống các làng mạc dọc đường, vì cái đội đi cùng đó, không ai muốn tự hành xác ngủ nơi hoang vu lạnh lẽo ăn uống kham khổ cả.

(Nguồn ảnh: vintag.es)

Sau này, Marina kể lại rằng, chuyến đi dọc Vạn Lý Trường Thành là một trải nghiệm phi thường cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Họ đã đi trên cả những đoạn tường thành còn lại lẫn những con đường mòn trơ trọi, những đống đổ nát hoang tàn. Tuyến đường đi từ phía Marina có vẻ là nửa khó khăn hơn, vì địa hình khúc khuỷu phức tạp hơn so với phía sa mạc Gobi của Ulay. Mỗi buổi chiều, họ sẽ rẽ khỏi Trường Thành, đi bộ thêm khoảng một chục km để vào các làng xóm bên đường, ăn tối và ngả lưng qua đêm. Marina sẽ tìm gặp những người già trong làng để hỏi chuyện. Những câu chuyện kể dân gian hàng đêm ấy hầu hết đều là về truyền thuyết về Trường Thành và cuộc chiến bảo vệ đất nước trước những cuộc xâm lăng. Để rồi sáng hôm sau, họ sẽ lại cuốc bộ ngược ra chục km, bắt đầu hành trình dọc Vạn Lý Trường Thành.

(Nguồn ảnh: vintag.es)

Sau 90 ngày đi bộ ròng rã, ngày 27 tháng 6, họ gặp nhau tại một ngôi chùa trên núi Nhị Lang, gần thị trấn Thần Mộc. Chuyến đi đã kết thúc, nhưng đó cũng đồng thời là kết thúc cho mối quan hệ giữa Ulay và Marina. Họ nói với nhau vài câu, ôm nhau, tổ chức một cuộc họp báo ngắn và không gặp lại nhau nữa.

Marina và Ulay gặp nhau ở Nhị Lang Sơn (Nguồn ảnh: vintag.es)

Marina cho biết khoảnh khắc gặp Ulay ở núi Nhị Lang, bà đã rất tức giận. Khi lên kế hoạch, họ đã hứa với nhau sẽ đi không ngừng cho tới khi gặp nhau, nhưng Ulay không làm theo. Ông đã dừng lại đợi ở núi Nhị Lang 3 ngày, “chỉ vì nơi đó có khung cảnh hùng vĩ, rất đẹp, phù hợp để lên hình”. Marina cho rằng đó là một sự phản bội đối với ý tưởng của chuyến đi.

Nhưng đó không phải là lý do khiến họ chia tay. Chuyến đi được lên kế hoạch từ năm 1980 và được công bố vào năm 1983, nhưng mãi tới năm 1988, họ mới thực sự bước chân trên hành trình dự kiến. Trong suốt thời gian đó, rất nhiều chuyện đã xảy ra. Từ hai nghệ sĩ bình thường khi mới gặp nhau, Marina và Ulay đã dần thu hút được sự chú ý, trở thành người của công chúng, thành những KOL xịn sò. Marina cho rằng đó là điều tất yếu phải đến, bà hoàn toàn thảnh thơi tận hưởng sự nổi tiếng, còn Ulay không muốn vậy. Ông muốn theo đuổi nghệ thuật thuần túy, tĩnh lặng và xa rời đám đông dư luận. Đồng thời, sức khỏe của ông có vấn đề, xuất hiện những dấu hiệu thoát vị đĩa đệm, khiến những cuộc biểu diễn của họ khó thực hiện hơn nếu phải giữ nguyên một tư thế trong thời gian dài. Không chỉ thế, giữa họ xuất hiện cả những khác biệt trong cuộc sống, khi Ulay muốn có con, còn Marina từ chối dứt khoát. Ulay bắt đầu có những mối quan hệ khác, và Marina cũng vậy. Trước công chúng, họ vẫn còn là một cặp đôi, nhưng trên thực tế, hai tâm hồn đã không còn gắn bó. Chuyến đi bộ suốt Vạn Lý Trường Thành chỉ là dấu chấm hết của những gì đã kết thúc từ trước đó rất lâu.

Và Ulay là người giúp cho dấu chấm được đặt xuống dễ dàng hơn. Tại điểm hội ngộ trên núi Nhị Lang, ông nói rằng cô phiên dịch đã mang bầu đứa con của ông. Marina đáp, vậy hai người hãy làm đám cưới đi. Ulay trả lời, họ dự kiến sẽ tổ chức đám cưới. Ulay và Marina ôm nhau – một cái ôm không còn cảm giác thân mật gì nữa cả – như Marina kể lại. Họ cùng tham dự cuộc họp báo công bố kết thúc hành trình, và sau đó không bao giờ gặp lại nhau nữa.

Hoặc ít nhất là họ tưởng rằng sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa. Ở thời điểm đó, con đường nghệ thuật và cuộc đời của họ đều rẽ về hai ngả tách rời.

Cho đến hơn 20 năm sau. Năm 2010, Marina có một cuộc trình diễn với tên gọi The Artist Is Present tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA) tại New York. Ý tưởng của buổi trình diễn này là một không gian mở, nơi đặt hai chiếc ghế đối diện nhau qua một chiếc bàn. Marina sẽ ngồi một bên, và khán giả sẽ được bước tới ngồi ở chiếc ghế bên kia, song phải giữ im lặng, không đụng chạm hoặc tác động tới bà. Người ta xếp hàng dài để được ngồi vào chiếc ghế trống đó trong bao lâu cũng được, chỉ giao tiếp bằng mắt với Marina ở bên kia. Giữa họ sẽ là một kết nối không lời, những chia sẻ không lời, cho đến khi người khách quyết định rời đi. Thời gian biểu diễn kéo dài trong 3 tháng, và Marina sẽ ngồi đó từ khi Bảo tàng mở cửa tới giờ đóng cửa, bất kể có ai tới ghế đối diện hay không.

Thế rồi Ulay xuất hiện. Ông cũng xếp hàng như mọi người, đợi tới lượt, rồi bước tới ngồi lên ghế, nghiêng đầu, bối rối chỉnh lại áo. Nhận thấy có ai đó đã ngồi lên ghế bên kia, Marina mở mắt, nhìn người quen cũ ở phía đối diện với một ánh mắt ngỡ ngàng. Và cười. Và khóc. Và bà vươn tay qua bàn để chạm vào tay ông. Đó là lần đầu tiên trong buổi trình diễn, Marina có một sự tương tác cá nhân ngoài ánh mắt với những người tham gia. Về phần mình, Ulay cũng nghiêng tới để nắm lấy tay bà. Họ nói với nhau điều gì đó, trong khi đám đông khán giả đang xếp hàng đợi đến lượt vỗ tay tán thưởng. Rồi Ulay đứng dậy, rời đi, còn Marina lau nước mắt, quay trở lại tư thế trình diễn ban đầu.

Họ tái ngộ với nhau, nhưng không tái hợp. Đó gần như chỉ là một cuộc gặp gỡ ngoài dự kiến. Con đường riêng của mỗi người không hề dẫn tới một đoạn giao cắt nào cả.

Ngược lại, 5 năm sau, năm 2015, người ta chứng kiến Ulay khởi kiện Marina Abramovic để đòi phần thù lao chưa được chia đối với những tác phẩm chung của hai người thời còn đồng hành. Ông cũng đòi được ghi tên đồng tác giả trên những tác phẩm chung được ghi lại dưới dạng ảnh hoặc video, mà tới lúc đó mới chỉ ghi tên Marina Abramovic. Marina tuyên bố rằng đó chỉ là những nỗ lực để bôi xấu hình ảnh của bà. Còn tòa thì tuyên bố Ulay thắng kiện. Marina buộc phải chi trả khoản tiền tác quyền 250.000 Euro cho Ulay, đồng thời ghi tên ông như đồng tác giả trong các tác phẩm chung. Sau này, Ulay chia sẻ rằng ông đã rất thất vọng khi những bức ảnh chụp tác phẩm chung của hai người xuất hiện trong các cuốn sách của Marina đã không ghi tên ông, cũng không ai nói gì về tác quyền đối với những tác phẩm ấy. Như thể ông không hề tồn tại và cũng không liên quan gì. Khi ông muốn in những tấm ảnh tác phẩm hai người từng làm chung trong cuốn sách của mình, phía bà Marina lại trả lời rằng ông không được phép sử dụng. Và ông cũng không có để mà sử dụng, vì ảnh nằm trong thư mục lưu trữ do Marina giữ. Vậy là họ để các cố vấn pháp lý của mình “vào việc” với nhau.

Đời người nghệ sĩ phức tạp lắm bạn ơi, vì sau vụ kiện đó, cả hai cũng không quay ra thành kẻ thù không đội trời chung hay ghét nhau như hắt nước đổ đi. Năm 2017, họ cùng nhau thực hiện một bộ phim tài liệu chung do Lousiana Channel sản xuất dưới tên gọi: Marina Abramovic & Ulay: No Predicted End. Trong đó, họ ngồi với nhau và hồi tưởng lại con đường tới khoảnh khắc họ gặp nhau, cuộc đời nghệ thuật mà họ đã từng cống hiến cho nhau trọn vẹn, quá trình thực hiện những tác phẩm chung cũng như những khúc mắc và những ngã rẽ đưa họ rời xa.

Marina bảo rằng 30 năm trước, bà chưa từng hình dung ra cái cách mà mọi thứ đang diễn ra ở thời điểm này. Khi được biết Ulay bị ung thư, bà đã khóc. Bà thấy mình đầy mâu thuẫn: một đằng, bà vẫn ghét ông, nhưng đằng kia, ở sâu bên trong, cảm xúc và tình yêu vẫn còn đó. Marina luôn giữ liên lạc với Lena – người vợ sau này của Ulay để được chia sẻ về tình hình của ông. Cuộc gặp gỡ và trò chuyện của hai người đã giải phóng họ khỏi quá khứ, đồng thời thu hẹp lại những khoảng cách, để họ nhận ra rằng, dù trong cuộc sống và trong nghệ thuật, họ không còn là một cặp đôi mỹ mãn, nhưng giữa hai người vẫn là lòng ngưỡng mộ, sự tôn trọng và sự quan tâm. Họ đã trưởng thành. Họ được giải phóng khỏi gánh nặng quá khứ, khỏi cả những gì tốt đẹp lẫn tệ hại.

Marina và Ulay trong Maria Abramovic & Ulay: No Predicted End

Nhớ về buổi trình diễn ở MoMA, khi Ulay đột ngột xuất hiện, Marina nói, bà sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc đó. Khi ông xuất hiện, bà đã phá vỡ mọi nguyên tắc biểu diễn của mình để giao tiếp với ông. Trước đó, và sau đó, bà luôn trung thành tuyệt đối với những nguyên tắc đã đề ra trước khi biểu diễn. Ví dụ như với tác phẩm tại MoMA, bà sẽ hoàn toàn không giao tiếp, đụng chạm gì với người tham gia ở phía bên kia bàn, trừ một ánh mắt. Nhưng khi Ulay đột ngột ngồi đó, bà không thể kiềm chế, vì ông không phải là một khán giả bình thường nào đó. Những cảm xúc lúc đó là bột phát chân thật, là những cảm xúc rất con người. Cũng chính điều đó đã kết nối với mọi khán giả từng xem buổi trình diễn.

Tháng 3 năm 2020, Ulay qua đời vì ung thư, đâu đó cũng lanh quanh cùng những ngày mà 35 năm trước, ông đã cùng Marina đi những bước chân đầu tiên từ hai phía Vạn Lý Trường Thành.

Tất cả chuyện này nói lên điều gì? Là bọn nghệ sĩ sống phóng túng bừa bãi, là tình yêu không phải là mãi mãi, đàn ông là lũ lang chạ không đáng tin, nghệ thuật cũng chỉ là tạm thời và cái đẹp thật ra là ảo ảnh ấy à? Mình không biết. Tất cả mọi nhận định đều chỉ như những ánh đèn flash lóe lên trong khoảnh khắc rọi chiếu vào cuộc đời họ, với đầy những khoảng tối, mà chắc chắn khoảnh khắc ấy cũng không thể nói lên tất cả mọi điều cùng một lúc. Nên mình chỉ cố gắng kể lại với ít cảm xúc cá nhân nhất có thể, trừ những đoạn nói lên cảm nhận của mình về các tác phẩm của Marina và Ulay. Nhìn theo một cách khác, toàn bộ cái post rất dài này, thực ra cũng chỉ là một đoạn giữa dài hơn các đoạn giữa khác. Tất cả chúng ta, trên những con đường khác nhau và những cột cây số khác nhau, đều đang ở trên những đoạn giữa.

Theo dõi blog

Follow Ngẫu nhiên on WordPress.com

10 Comments

  1. Tháng 5 24, 2023
    Reply

    sự điên rồ mà mình thấy cũng chỉ là một lát cắt hả :D

    • Thăng Long đệ bét kiếm
      Tháng 5 24, 2023
      Reply

      cũng chưa chắc, có khi nó là sự điên rồ thật. Còn tùy cắt ngang hay cắt dọc chứ.

  2. La Thanh Ha
    Tháng 5 25, 2023
    Reply

    Em mới đọc quyển sách có đoạn này: “Tôi tin vào sức mạnh của sự gắn bó giữa hai người, vào sự chung thuỷ như là một trong những nền tảng cơ bản của lòng tin, và tôi coi các lực lượng phá hoại và sáng tạo là một phần của mọi mối quan hệ. Ta yêu và đôi khi ta cũng ghét những người mà ta yêu thương; ta tin tưởng họ nhưng cũng sợ những tổn thương và đau đớn mà họ có thể gây ra cho ta. Một trong những mục tiêu gắn liền với sự phát triển là khả năng tích hợp cảm xúc tích cực và tiêu cực: gheys trong yêu thương, yêu thương trong khi nhận ra những khoảnh khắc của thất vọng và giận dữ. Càng biết và sở hữu những thôi thúc mang tính huỷ diệt của bản thân, ta ngày càng có khả năng yêu thương trọn vẹn.” Em nghĩ họ có sự tự do và sáng rõ để sống đến cùng với tất cả cảm xúc của mình.

    • Thăng Long đệ bét kiếm
      Tháng 5 25, 2023
      Reply

      đọc cái đoạn này sao nó phức tạp quá, mình không chắc là mình hoàn toàn hiểu ý của ông tác giả là gì. Hoặc cũng có thể để ông ấy đã chọn cách diễn đạt phức tạp một điều đơn giản. Còn thì như đã viết, mình không nghĩ gì sau cả câu chuyện dài này. Họ có tự do hay không, họ đã đi đến tận cùng chưa, tất cả những điều đó chỉ có họ biết, hoặc thậm chí chính họ cũng không biết nữa là mình. Còn cuộc sống cứ diễn ra như nó vốn là, những điều đã xảy ra là những điều đã xảy ra thôi. Sau những dông bão kia, mình thấy ở phía cuối đường dù sao cũng là tĩnh lặng.

      • La Thanh Ha
        Tháng 5 25, 2023
        Reply

        😂😂 à đúng, thật ra tác giả tổng kết lại trong một case làm việc với thân chủ, một quyển sách tâm lý ạ. Em tự dưng thả nó vào đọc cũng phức tạp thật.

        • Thăng Long đệ bét kiếm
          Tháng 5 25, 2023
          Reply

          ý mình là chẳng phải tất cả những điều ấy là nghiễm nhiên sao? Bao giờ cũng có ánh sáng ở trong bóng tối, có yêu ở trong ghét, có giận thì giận mà thương thì thương…, nếu không phải là cùng lúc thì bọn nó cũng nối đuôi cuốn chiếu với nhau. Nhưng những cặp phạm trù đối lập ấy chỉ là cái nguyên lý chung, cái nguồn gốc. Nói về nó thì lúc nào cũng đúng, vì đấy chỉ là tô vẽ thêm lời giải cho một bài toán đã cho sẵn đáp số. Đoạn giữa mới là đoạn mà các chất hóa học phản ứng với nhau, là những tương tác xảy ra để khiến những cái nọ ở trong cái kia đó có khi sẽ không thoát ra mà chỉ là cái nọ cái kia tiềm ẩn.

          Giờ nghe đã khó hiểu hơn đoạn trên chưa?

          • La Thanh Ha
            Tháng 5 25, 2023
            Reply

            =)) vẫn hiểu ạ.

            • Thăng Long đệ bét kiếm
              Tháng 5 25, 2023
              Reply

              thế thì chứng tỏ trình độ make up cho chữ của mình chưa đạt đến độ cao siêu lắm rồi

              • La Thanh Ha
                Tháng 5 25, 2023

                Đâu, vì em… giỏi đấy. =)))

              • Thăng Long đệ bét kiếm
                Tháng 5 25, 2023

                công nhận, nghĩ ra luôn được cả lý do này thì giỏi thật chứ còn gì nữa : ))

Trả lời phản hồi cho La Thanh HaHủy