Cà phê Tông Đản

Thỉnh thoảng được đi họp “trên phố”, mình thường sẽ ngồi duỗi chân uống cafe ở vỉa hè Tông Đản. Qua đôi ba đợt dịch, quán cafe nay đã sập tiệm rồi. Thực ra cafe ở đó chẳng phải ấn tượng lắm, chẳng qua cả Tông Đản lẫn Lê Phụng Hiểu đều là những phố vắng vẻ nhiều cây, mà mình vốn thích chỗ ngồi có tầm nhìn thoang thoáng một chút, ví dụ như chỗ ngã tư giao hai con phố.

Giờ mà muốn ngồi cafe cũng chẳng ngồi đâu được, vì hàng quán đều không tiếp khách tại chỗ. Ở văn phòng mình vẫn pha cafe uống chơi, nhưng nó không có cái thú vị của việc thảnh thơi thong thả nhấm nháp ngọt và đắng vuốt ve trong vòm miệng. Thôi thì ngồi lan man về đường phố cho đỡ nhạt mồm.

Có một số cái tên phố mà đọc lên phát biết ngay người ta đang nói đến phố ngoài Bắc hay trong Nam, cụ thể là phố ở Hà Nội hay ở Sài Gòn. Ví dụ như Hà Nội là Tông Đản, Lê Thánh Tông, còn Sài Gòn là Tôn Đản, Lê Thánh Tôn. Tôn hay Tông cũng là một người thôi. Chẳng qua do sau này kỵ húy triều Nguyễn, vua Thiệu Trị tên thật là Nguyễn Phúc Miên Tông, nên tất cả những từ gì có chữ “tông” đều phải đọc trại ra thành “tôn” hết. Nếu không, theo đúng Luật Gia Long, thằng nào phạm húy sẽ bị nọc ra cho ăn roi, nhẹ thì 40 trượng, nặng cũng 1 lít. Ăn chục roi đã nhừ mẹ miếng mông sấn rồi nữa là gấp 4 lần thế. Thành thử Lê Thánh Tông được đổi thành Lê Thánh Tông, người trong họ vua đáng lẽ gọi là tông thất thì cải thành tôn thất, mà nếu hồi ấy đã có dép tông rồi, thế nào người ta cũng gọi là dép tôn.

Câu hỏi đặt ra ở đây bỗng dưng là: ơ thế sao chỉ có tên phố trong Sài Gòn là Lê Thánh Tôn, Tôn Đản, mà ở Hà Nội vẫn là Lê Thánh Tông, Tông Đản? Đáng lẽ kỵ húy rồi thì tên cùng một ông phải được kỵ giống như nhau chứ?

Đáp án rất đơn giản, nó khác nhau bởi vì tên đường phố ở Hà Nội và Sài Gòn không phải được đặt bởi cùng một người, mà cũng không được đặt cùng một lúc.

Chuyện đặt tên phố ở Hà Nội cũng có vài lần truân chuyên. Người đầu tiên lấy tên danh nhân Việt Nam để đặt tên cho phố là bác sĩ Trần Văn Lai, Thị trưởng Hà Nội dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật hậu thuẫn đầu năm 1945. Bác sĩ Trần Văn Lai đã thay hết tất cả tên phố tiếng Pháp, mang tên người Pháp thành tên phố tiếng Việt ban đầu hoặc tên danh nhân lịch sử, văn hóa nội địa. Chuyện này mình nhớ mang máng đã từng nhắc đến rong một post khác trước đây rồi, nay Trần Văn Lai cũng đã trở thành tên một con phố ở Nam Từ Liêm, chỗ gần tòa nhà Sông Đà.

Những diễn biến tiếp theo ào ạt ập đến, Hà Nội quay cuồng trong cơn dông tố lịch sử. Cách mạng tháng 8 diễn ra, bác sĩ Trần Duy Hưng trở thành Chủ tịch Hà Nội. Toàn quốc kháng chiến, Chính phủ Việt Minh tản cư lên Việt Bắc, Pháp tạm chiếm Hà Nội tiện tay ấn nút reset trả lại hết tên phố tiếng Pháp. Thời dược sĩ Thẩm Hoàng Tín làm Thị trưởng Hà Nội trong chính quyền “Quốc gia Việt Nam” do Pháp dựng nên, các tên phố tiếng Việt như thời bác sĩ Trần Văn Lai đã trở lại. Đó cũng là cái thời mà Hà Nội có mấy phố Anh Quốc, Mỹ Quốc, Pháp Quốc nghe rất chi là Liên Hiệp Quốc. Hết kháng chiến, năm 1954, chính quyền Việt Minh về tiếp quản thủ đô, vẫn là bác sĩ Trần Duy Hưng quay về làm Chủ tịch thành phố. Dù thành phố trải qua nhiều lần xoay đi đổi lại lật mặt như lật bánh tráng, có thể rút ra 2 điều: một là cứ nghề dược sĩ, bác sĩ là sẽ nhiều khả năng làm đại ca cầm đầu thành phố, hai là nguyên tắc đặt tên phố do bác sĩ Trần Văn Lai thiết lập cho Hà Nội về cơ bản vẫn được giữ nguyên tới ngày nay.

Còn ở Sài Gòn, việc đổi tên trên diện rộng lần đầu tiên được thực hiện năm 1956, dưới chính phủ Quốc Gia Việt Nam do ông Bảo Đại làm Quốc trưởng và ông Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng. Trưởng phòng Họa đồ của tòa Đô chính (Tòa Thị chính) Sài Gòn thời ấy là ông Ngô Văn Phát đã nghiên cứu, xây dựng hệ thống tên đường theo mối quan hệ lịch sử giữa các danh nhân cũng như theo các địa danh, các công trình đang tọa lạc trên con đường đó để thay cho các tên Pháp hiện hữu. Sau năm 1975, một số con đường được chính quyền mới đổi lại tên, song đại thể thì vẫn giữ nguyên cho tới ngày nay, kể cả tên gọi. Như thế, nguyên tắc đặt tên đường của Hà Nội và Sài Gòn thực ra không khác nhau nhiều, những người đặt tên cho phố đều là những kẻ mộng mơ và yêu lịch sử.

Vậy là cho tới giữa những năm 1950, ở cả Hà Nội và Sài Gòn, phố Tôn Đản đều tên là Tôn Đản. Chỉ khác là từ sau năm 1954, chính quyền Hà Nội chả quan tâm tới kị húy kị héo gì sất, thậm chí càng muốn giữ khoảng cách với vương triều Nguyễn, thành ra các tên phố được đặt chệch đi do kỵ húy đều đã được sửa lại đúng với tên gốc của danh nhân. Còn Sài Gòn, sau năm 1975 đã đổi tên thành phố, mà tên đường mãi gần đây mới điều chỉnh cho đúng.

Bản thân việc ông Tông Đản được đem tên đặt cho phố cũng gây ít nhiều tranh cãi, bởi chưng ông này có một số vấn đề về lý lịch rất khó giải thích. Tông Đản chỉ xuất hiện duy nhất một lần trong Đại Việt Sử ký toàn thư với vai trò là Tướng chỉ huy cánh quân đi đường bộ tiến đánh Ung Châu trong đất Tống năm 1075-1076. Người chỉ huy cánh quân còn lại chính là Lý Thường Kiệt, đi đường biển tấn công vào Khâm Châu, Liêm Châu. Rõ ràng, với vai trò trong chiến dịch chủ động đánh Tống, Tông Đản phải giữ vị trí nhất định trong các diễn biến lịch sử tiếp sau, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Tống năm 1076-1077. Nếu không còn là tù trưởng ở biên giới thì ít nhất Tông Đản cũng phải xuất hiện ở phòng tuyến Như Nguyệt chứ? Tuy nhiên sau đó, không thể tìm được bất cứ thông tin nào về hành trạng của Tông Đản trong chính sử Việt.

Trong khi đó, Tống sử chép hồi những năm 1066-1067, Nùng Tông Đán là tù trưởng ở biên giới Đại Việt coi châu Vật Ác đã theo Tống, không những thế còn đem mấy động do mình quản lý nhập Tống. Động ở đây là các khê động vùng biên chứ không phải là đem theo mấy em cave ra hàng đâu. Ông Tông Đán này được vua Tống phong đến Thiên Ngưu Vệ tướng quân, sau cũng lại không thấy nhắc đến nữa.

Thực tế là thời ấy, các thủ lĩnh khê động thường có xu hướng giống các bang Swing state ở Mỹ, nghĩa là lúc theo phe này, lúc theo phe kia, lúc hàng Tống, lúc hàng Việt. Đến kháng chiến chống Tống năm 1076-1077, gần như toàn bộ các thủ lĩnh khê động như Hoàng Kim Mãn, Lưu Kỷ đều hàng Tống. Chỉ còn duy nhất Phò mã Thân Cảnh Phúc – tù trưởng động Giáp là cảm tử chặn giặc và ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc.

Liệu Tông Đản và Tông Đán có phải là một người mà do đọc sai tên trại ra thành Đán hay không, hay là họ hàng bố con gì, không có cơ sở để chốt hạ được. Đến Lý Thường Kiệt còn được sử Tống chép nhầm tên thành Lý Thượng Cát nữa là. Nhưng giả sử Tông Đản từng dâng đất hàng Tống, rồi lại lĩnh quân làm phó tướng cho Lý Thường Kiệt đánh Tống, rồi sau này lại quay sang hàng Tống tiếp, thì tính công và tội thế nào? Nhìn vào các nhân vật lịch sử, người ta thường có xu hướng lấy công trừ đi tội, hoặc lấy tội trừ đi công, mà mặc lòng phán xét, chứ chẳng bao giờ có chuyện công tội bù cho nhau xong là huề. Người ta luôn muốn nâng lên hoặc đặt xuống chứ không thể giữ ngang. Cái cân tiểu ly cần được lệch bên này bên kia một tí. Còn các nhân vật lịch sử, có ai mà không phải là người, không thế này thế nọ thế kia mà hoàn hảo toàn bích được đâu? Ỷ Lan và Thường Kiệt bức tử hoàng hậu Thượng Dương và gần trăm cung nữ, Thủ Độ đào hầm lừa chôn sống cả lò tông thất nhà Trần, còn ông vua rực rỡ chiến công anh minh thần võ Lê Thánh Tông thì nóng nảy hiếu sát… Dường như cứ phải phán xét xong xuôi thì ta mới thấy mình có vai trò, có vị trí, có tiếng nói, ta đứng ngoài, đứng trên, ta khác.

Nhưng không. Chỉ cần được nghe kể lại câu chuyện lịch sử như những gì nó đã diễn ra thôi cũng đã đủ vui rồi.

Theo dõi blog

Follow Ngẫu nhiên on WordPress.com

Be First to Comment

Quăng một viên đá/ Tặng một bông hoa ?