Lối xưa xe ngựa

Chuyện lịch sử chảy trôi vốn là tất nhiên, đổi thay là không tránh khỏi. Sông xưa rày đã nên đồng, đến biển tiến biển thoái còn khiến đáy biển thành đỉnh núi nữa là. Nhưng post trước mình tự đặt ra giới hạn viết lan man nhưng đồng thời không được viết dài, thành ra chưa đã tay gì cả. Giống như đao rút ra, chưa thấy máu chảy đã lại phải trở lại vỏ vậy. 

Post này rút kinh nghiệm, viết linh tinh không cần chương pháp, lan man cũng được, dài cũng được, bao giờ viết chán thì đi về. Hoặc bao giờ sợ thì đi về, tùy điều kiện nào đến trước. 

Nói tiếp về sông Tô Lịch, có một chi tiết post trước mình không nhắc đến, đó là ngoài hai đường liên thông với sông Hồng qua sông Thiên Phù và cửa Giang Khẩu, sông Tô Lịch còn kết nối với Hồ Tây qua Hồ Khẩu. Bản thân Hồ Tây vốn cũng từng là một phần của dòng chảy sông Hồng. Và như thế, sông Tô Lịch, Hồ Tây, sông Hồng trở thành hệ thống nước nôi bao quanh Kinh thành cũng như Hoàng Thành. 

Nếu nhìn lên bản đồ Hà Nội, rất dễ thấy vị trí của di tích Hoàng thành nằm sát ngay hồ Tây. Đó cũng là vùng lõi của Hoàng thành năm xưa với cung điện lầu gác tỏa ra xung quanh. Phần Hoàng thành là dành riêng cho hoạt động của vương triều, sinh hoạt của hoàng gia, là cấm địa dán khắp nơi dòng chữ “Không nhiệm vụ miễn vào”. Khu vực đó, trước đây không phải chỉ có phần di tích Hoàng thành với sân điện Kính Thiên ngày nay mà bao trọn  đường Phan Đình Phùng, Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chính phủ ra đến đầu Hoàng Hoa Thám, đường Nguyễn Tri Phương và Lý Nam Đế. Ôm lấy cả Hoàng Thành và các khu vực bên ngoài, nơi có dân cư, phường trại mới là toàn bộ Kinh thành Thăng Long.

Khi mới dời đô về Thăng Long, việc đầu tiên là Lý Thái Tổ cho khởi công một loạt các công trình Hoàng thành: từ đắp tường, xây thành, đào hào. Cung điện dựng theo trục Bắc – Nam theo đúng Kinh Dịch: “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ” (Bậc thánh nhân ngoảnh mặt về nam mà lắng nghe thiên hạ).

Nếu nhập cung kiến giá, bạn sẽ qua cửa chính Nam là cửa Đại Hưng, bên trên có lầu Ngũ Phượng. Tiếp đến là điện Cao Minh đóng vai trò như một lớp giãn cách giữa cửa Hoàng Thành với thềm rồng. Qua thềm rồng là điện Càn Nguyên chỗ vua thiết triều, hai bên có điện Tập Hiền và điện Quảng Vũ là nơi văn võ sửa soạn trước khi vào chầu. Nếu có một mối quan hệ đặc biệt sâu sắc với người-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy, bạn sẽ được dẫn vào phía sau điện Càn Nguyên là điện Long An – nơi vua nghỉ, hai bên có điện Nhật Quang, Nguyệt Minh. Sau nữa của điện Long An, Lý Thái Tổ cho xây cung Thúy Hoa, Long Thụy làm nơi ở của cung phi. Còn cả chùa Hưng Thiên để vua tới lễ Phật. Đấy mới chỉ là kiến trúc sơ sơ thời mới định đô, chứ các đời vua Lý tiếp sau thấy đất rộng người thưa, còn xây sửa thêm chán chê đủ loại cung điện lầu son gác tía.

tái hiện cảnh Lý Công Uẩn chốt deal dời đô trên sân khấu Hoàng Thành

Nghe có vẻ rất lộn xộn, nhưng không, từ tên cung với điện, bạn có thể dễ dàng suy ra công trình đó được dựng làm gì. Như điện Càn Nguyên là văn phòng làm việc chính của nhà vua, lấy tên theo quẻ Càn là trời, cũng ứng với người chủ vốn là Thiên tử. Trời ban ánh sáng, mưa gió cho vạn vật sinh trưởng, nên quẻ Càn có đức tính Nguyên nghĩa là nguồn gốc của mọi thứ trên đời. Chỗ làm việc của vua đương nhiên là khởi nguồn của mọi quyết định kinh thiên động địa trên đời rồi chứ còn đâu vào đây nữa. Bậc thánh nhân ở ngôi cao, đem đạo của trời đất ra mà thực hành thì thiên hạ thái bình vô sự, ấy là ý nghĩa của điện Càn Nguyên. 

Cái tên Càn Nguyên còn nhiều ý nghĩa triết học khác, nhưng thôi, rất lằng ngoằng mà nghe nhiều dễ chán. Sau điện Càn Nguyên tới điện Long An là nơi vua nghỉ ngơi, kiểu nghỉ ngơi nhẹ, an nghỉ thôi chứ chưa nghỉ hẳn. Hai công trình trái phải bên điện Long An là điện Nhật Quang (Mặt trời rực rỡ), Nguyệt Minh (Mặt trăng sáng tỏ) tượng trưng cho âm dương hòa hợp. Cụm tam giác Càn Nguyên – Tập Hiền, Quảng Vũ và cụm Long An – Nhật Quang, Nguyệt Minh nối tiếp ra sau thành một trục thẳng, gọi là trục Chính đạo.

Khúc sau điện Long An được coi như hậu cung, có cung Long Thụy và cung Thúy Hoa. Cung với Điện nói chung khác nhau ở chỗ Điện là nơi ở, nơi làm việc (hoặc có khi là nơi thờ cúng) của Hoàng gia, công dụng thường mang tính chính thức. Trong một cụm kiến trúc 1 chính 2 phụ, công trình trung tâm thường là Điện, hai bên tả hữu có thể là Điện hoặc là Cung, nhưng nhỏ hơn. Cung chỉ đóng vai trò là công trình phụ trợ, có tính chất riêng tư, cá nhân. Nên đến cung Long Thụy cũng vẫn là nơi vua ngủ thôi, nhưng ngủ kiểu riêng tư, he he. 

Quan trọng là cái cung Thúy Hoa kia. Đại Việt sử ký toàn thư giải thích cung Thúy Hoa là nơi ở của cung nữ. Lúc làm xong cung Thúy Hoa, Lý Thái Tổ tổ chức lễ khánh thành, ra lệnh đại xá thuế khóa cho thiên hạ trong 3 năm. Những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều được miễn thuế cả. Trong tất cả các cung với điện với các loại lầu son gác tía, Toàn thư chỉ chép mỗi việc nhà vua ăn mừng tưng bừng với riêng cung Thúy Hoa này mà thôi. Xây xong cái cung nho nhỏ ngay cạnh chỗ ngủ mà tự dưng người ta mát lòng mát dạ thế chứ lị. 

Cung Thúy Hoa này, trải qua dâu bể, sang thời Trần đổi thành điện Hàm Nguyên, đến thời Lê lại thành chùa Trấn Quốc, chính là chùa Trấn Quốc ngày nay bên đường Thanh Niên. Nhưng nào đã xong, cuối thời Lê, Chúa Trịnh thấy chỗ này thế đất đẹp đẽ nên thơ, xung quanh sóng sánh nước hồ, trăng thanh gió mát tồ tồ đi chơi nên chiếm luôn chùa, biến thành hành cung, thường xuyên ở lại đàn hát vui thú. Vốn là nơi vua Lý đến vui vẻ năm xưa, thế sự đổi thay thành chùa chiền thanh tịnh, giờ hết Chúa Trịnh Giang đến Trịnh Sâm biến ngược lại thành chỗ vui vẻ. Hồ Tây, suốt hàng trăm năm, từng là nơi nghỉ mát, uống rượu, thưởng trà, chơi bời trăng gió của đủ các thế hệ quyền quý thượng lưu, tao nhân mặc khách.

Cũng ngay thời gian ấy, chếch ngay qua hồ Trúc Bạch bên kia, không xa nơi vui vẻ của nhà Chúa, lại là ly cung Trúc Yên. Những cung nhân thất sủng, mắc lỗi hay đơn giản là vô ý làm gì để Chúa ngứa mắt sẽ được đày ra ly cung, không gọi là giam lỏng nhưng cũng chẳng được tự do. Nó là một thứ lãnh cung mà người ra đó không còn đường trở lại với vàng son, chỉ có thể chăm tằm dệt lụa qua ngày, sống cuộc đời bị chìm sâu vào quên lãng. 

Đi ngược lên một chút phía đông bắc hồ ngày nay là ngôi chùa Kim Liên. Đến đây lại có một sự trùng tên nhẹ, nhưng chùa Kim Liên ở Hồ Tây hoàn toàn không liên quan đến đền Kim Liên trong Thăng Long tứ trấn ở Xã Đàn. Chùa Kim Liên tương truyền từng là cung Từ Hoa của con gái vua Lý Thần Tông, được cha lập cung ở ngoài thành cho gần gũi nhân dân, làm nghề trồng dâu dệt vải mà sống cùng người dân lao động. Ngày nay, tên Từ Hoa được đặt cho con phố chạy vòng quanh bán đảo nhô ra trên sóng nước Hồ Tây, ngang qua chùa Kim Liên – cung Từ Hoa năm nào.

Chuyện này thật ra nghe hơi vô lý, vì Toàn thư không chép, cũng chưa từng nhắc đến tên công chúa Từ Hoa. Bản thân Lý Thần Tông lên ngôi năm 12 tuổi, ở ngôi được tròn 10 năm đã mất. Không hiểu công chúa sinh năm nào mà đủ lớn để xin được vua cha cho ra lập cung riêng bên ngoài? Cứ coi như Thần Tông dậy thì sớm, năm lên ngôi cũng là năm có Từ Hoa công chúa đi, chẳng lẽ nỡ bắt con bé 10 tuổi ra bươn chải một mình? 

Thực hư thế nào không rõ vì mình không tìm được tư liệu gốc nói về thân thế công chúa Từ Hoa. Nhưng đúng là từ thời Lý, các vua đã đặc biệt quan tâm tới lụa là gấm vóc Việt Nam. Thậm chí, Lý Thái Tông có lẽ là một trong những người đầu tiên phát động phong trào “người Việt dùng hàng Việt”. Ông đem hết gấm lụa Tống trong bảo khố – thời ấy vốn được coi là xa xỉ phẩm, là hàng thượng hạng luxury – phát sạch cho cho bá quan võ rồi tuyên bố: từ nay Hoàng gia chỉ dùng gấm lụa Đại Việt. Ngành dâu tằm của ta không phải mới tinh mà từ những năm đầu công nguyên đã có, tên húy của Hai Bà Trưng là Trưng Trắc, Trưng Nhị đã mang dấu ấn của gia đình trồng dâu nuôi tằm rồi. Nhưng tới thời Lý, lụa là Đại Việt mới rực rỡ ngời ngời, sản xuất ra những hàng trân phẩm tinh tế nhã nhặn tuyệt vời, còn được người Tống tấm tắc khen. Vậy nên thời Lý, Nghi Tàm đã là trại tằm tang, một dẻo đất bên Hồ Tây đã là bãi dâu ngút mắt rồi.

Bùi Giáng Giàng Búi lão ngoan đồng từng có thơ rằng:

“Hỏi tên: Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê: Rằng mộng ban đầu đã xa
Gọi tên là một hai ba
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm”

Đến đây kẻ hậu sinh thầm kinh hãi, nhớ đến câu “ai sợ thì đi về”, buông bút không viết nữa, đi về.

Theo dõi blog

Follow Ngẫu nhiên on WordPress.com

Be First to Comment

Quăng một viên đá/ Tặng một bông hoa ?