Năm xưa viết post “Ngôi đình ở lưng chừng”, mình cứ nghĩ như vậy đã là hiếm có khó tìm rồi. Nay lưu lạc giang hồ mới nhận ra Hà Nội không gì là không thể, ví dụ như có một ngôi đền còn chênh vênh hơn thế, nhỏ hẹp hơn thế, nằm ngay giữa góc phố hết sức bình thường.
Ngôi đền ở một góc của Hà Nội theo đúng nghĩa đen: góc giữa phố Hàng Bông và phố Hàng Hòm, góc phố nhộn nhịp khách du lịch thường xuyên đi ngang trên đường băng qua ngã tư. Sẽ chẳng ai để ý nếu không ngẩng lên thấy bốn chữ đại tự: “Phúc Hậu Linh Từ” hoặc đã được nghe nhắc đến từ trước. Mà kể cả thế, khó có thể tưởng tượng đằng sau cánh cửa hết sức bình thường, thường xuyên đóng kín là một ngôi đền.

Nếu đến đúng vào ba ngày đầu tháng hoặc ba ngày giữa tháng âm lịch – những ngày mà cánh cửa được mở ra, bạn sẽ bước vào một căn phòng rộng cỡ bốn mét vuông, đủ để kê một chiếc bàn dài và ghế đủ bốn người ngồi. Ngồi là chỉ ngồi thôi, miễn xoay xở, đặc biệt là nếu bạn hơi cơ bắp hoặc hơi quá cân. Ngay cạnh cửa là tấm cầu thang gỗ rất hẹp và rất dốc, dẫn lên tầng hai. Chính điện của đền nằm ở trên ấy, cũng nhỏ hẹp lắm, ngoài ban thờ thì chỗ đứng chỉ đủ cho 4-5 người cùng lúc. Đứng là chỉ đứng thôi, xoay xở là khó rồi. Ban thờ, chiếu lễ và hiên gói gọn trong chỉ ngần ấy không gian, ngăn cách với đường phố ồn ào nhộn nhịp bên ngoài bằng tấm rèm trúc, ở dưới nhìn lên cũng chẳng thấy gì.
Trên ấy thờ ông Trần Nhuận Đình – vị tổ nghề tráng gương. Thần tích kể rằng ông sống vào thời Trần, từng đi sứ Trung Quốc và học được kỹ nghệ tráng gương ở đó. Về nước, ông truyền nghề cho người dân thôn Kim Bát, nay là khúc phố Hàng Bông, Phủ Doãn, đem lại sinh kế cho dân. Nhưng nếu chỉ được thờ vì là người khai phá một nghề gì đó là chuyện bình thường như mọi nơi khác thôi. Sinh thời, ông Trần Nhuận Đình là người rất mến trẻ, chơi được với bọn trẻ con và biết hết cả các ngóc ngách xó xỉnh của kinh thành Thăng Long. Mỗi khi có trẻ đi lạc, người nhà sẽ đến cậy ông tìm giúp, mà ông cũng nhiệt tình đi tìm, lạc ở đâu cũng thấy. Sau này ông mất, người dân lập đền thờ, thần thường linh ứng khi cầu đảo chuyện liên quan đến con cái hay tìm trẻ lạc.
Tìm trong chính sử, mình không thấy dấu vết của nhân vật “Trần Nhuận Đình”, ông tổ nghề làm gương, không thấy hành trạng cụ thể. Có lẽ ông chỉ là thành viên của phái đoàn sứ thần chứ không phải Chánh sứ, Phó sứ hay quan chức cấp cao. Có lẽ nghề làm gương đã tồn tại từ trước đó, ông Trần Nhuận Đình chỉ là người du nhập về một số cách tân nào đó trong kỹ thuật, hoặc có nhiều nơi khác cũng biết tráng gương, riêng ông truyền nghề cho dân thôn này, giúp người dân ăn nên làm ra nên được dân lập đền thờ.
Nhưng quan trọng hơn là thần hiệu ngôi đền. Ba đời vua Nguyễn đã ban sắc phong cho ngài là “Nhân Hậu Phúc Thần”, cho thấy việc thờ phụng được người dân địa phương thực hành liên tục suốt nhiều đời. Xét theo phân loại của Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, ngài được xếp vào hạng đầu tiên trong ba hạng phúc thần: hạ, trung, thượng, thường là vị thần mang tính chất địa phương. Là một nhân thần, ông Trần Nhuận Đình không thi triển pháp thuật kỳ ảo hay làm nên những chiến công kinh thế hãi tục. Ngược lại, ông rất bình dị, rất đời thường. Siêu năng lực của ông là yêu trẻ và hẳn đã được bọn trẻ chấp thuận cho bước vào thế giới của chúng nó. Công tích của ông là làm điều nhân hậu theo một cách nhiệt thành. Đây là trường hợp cá biệt, mình chưa từng gặp ở đâu một vị thần có thần tích dễ thương như thế. Huống chi, ở giữa khu phố Hàng – nơi phồn hoa đô hội, nơi thị thành bán bán mua mua lại chẳng thờ Thần Tài, Lộc. Và khi người Thăng Long thắp lên một nén nhang trong đền Phúc Hậu, không phải là ta đang phụng thờ cho riêng một vị thần đâu mà là đang nuôi dưỡng cho sự nhân hậu đấy.

Be First to Comment